Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Nghiên cứu thám hiểm các hành tinh
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Những người được giải thưởng...
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Nguồn gốc loài người
Những kính viễn vọng hiện đại
Những biện pháp phóng ngừa...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 BKTT Nâng cao   Hành tinh của chúng ta   Niên biểu lịch sử Việt Nam


TRIỀU LÊ SƠ (1428 - 1527) 99 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT, KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

TRIỀU LÊ SƠ (1428 - 1527) 99 NĂM, QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT
 KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

1. Lê Thái Tổ (Lê Lợi (1428 -1433):

Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (tức 10-9-1385) là con trai thứ ba của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa. Ngay từ khi còn trẻ Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là một người phi thường.

Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trì giặc nước.

Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, v.v... chính thức phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.

Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.

Sau Hội thề Đông quan, ngày 29 tháng 12 năm 1427, bại binh của giặc bắt đầu được phép rút quân về nước an toàn. Đến ngày 3-1-1428, bóng dáng quân Minh cuối cùng đã bị quét sách khỏi bờ cõi.

Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, xưng là “Thuận Thiên thừa vận. Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương'' đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố Bình Ngô đại cáo. Đây chính là ''Tuyên ngôn độc lập'' lần thứ hai của Tổ quốc ta. Bình Ngô đại cáo mở đầu ghi:

“...Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng

Phong tục Bắc Nam cũng khác. .. ''

Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi thảo là một thiên anh hùng ca bất hủ, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc ta.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lời bàn: ''Lê Thái Tổ từ khi lên ngôi đến khi mất, thi hành chính sự, thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học... cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp... ''

Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433) hưởng thọ 49 tuổi, táng ở  vĩnh Lăng tại Lam Sơn, Thanh Hóa, trị vì được 5 năm.

2. Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) (1433 - 1442):

Lê Thái Tông tên húy là Nguyên Long, sinh ngày 20 tháng 11 năm Quý Mão (1423), là con thứ hai của Lê Lợi và bà Phạm Thị Ngọc Trần, lên ngôi vua ngày 8 tháng 9 năm Quý Sửu (1433) lấy niên hiệu là Thiệu Bình.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi: ''Vua thiên tư sáng suốt nối vận thái bình: bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ, xử tù, xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng. Cũng là bậc vua tài giỏi nổi giữ cơ đồ. Song đam mê tửu sắc, đến nỗi thình lình băng ở bên ngoài cũng là tự minh chuốc lấy họa...''

Lê Thái Tông lên ngôi vua mới 11 tuổi, còn quá trẻ lại phải đối phó với tình hình triều đình khá phức tạp. Mâu thuẫn và chia rẽ giữa hai lực lượng, một bên là các công thần khai quốc, đứng đầu là Đại tư đồ Lê Sát, Lê Ngân, với một bên là những quan lại có khoa bảng. Mặc dù vậy Thái Tông vẫn đủ bản lĩnh để không cho các đại thần hoàn toàn thao túng.

Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1432), Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi mời vua ngự chùa Côn Sơn nơi Nguyễn Trãi về trí sĩ. Ngày 4 tháng 8, vua về đến Lệ Chi Viên (Vườn vải) huyện Gia Định (nay thuộc Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, được vua yêu quý luôn được theo hầu bên cạnh. Đêm đó Thái Tông bị bạo bệnh chết đột ngột năm ấy mới 20 tuổi. Bọn gian  thần trong triều đã vu cho Nguyễn Thị Lộ ám hại Vua, kết án Nguyễn Trãi vào tội ''tru di tam tộc''.  

Ngày 16 tháng 8, Nguyễn Trãi và ba họ bị hành hình chỉ có bà Phạm Thị Mẫn, một người thiếp của Nguyễn Trãi đang mang thai được học trò của ông đưa chốn sang Lào mới thoát chết. Bà này sau đẻ ra Nguyễn Anh Vũ. Đến thời Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi, Nguyễn Anh Vũ được vua Lê Thánh Tông trọng dụng.

Vua Lê Thái Tông có bốn con trai do bốn bà vợ sinh ra: bà Chiêu Nghi Dương Thị Bí sinh ra Nghi Dân: bà thần phi Nguyễn Thị Anh sinh ra Hoàng tử Bang Cơ; bà Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Giao sinh ra Hoàng tử Tư Thành (sau là Vua Lê Thánh Tông) và một bà vợ khác sinh ra Cung Vương Khắc Xương.

3. Lê Nhân Tông (Bang Cơ) (1442 -1459):

Lê Nhân Tông tên húy là Bang Cơ, con thứ của Lê Thái Tông, sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441). Ngày 16 tháng 11 năm Tân Dậu (1441) được lập làm Thái tử. Ngày 12 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) mới 2 tuổi lên ngôi vua đổi niên hiệu là Thái Hòa. Thái hậu Tuyên Từ phải buông rèm nhiếp chính.

Tháng 11 năm Quý Dậu (1453) Vua đã 12 tuổi Thái hậu trả quyền chính cho Vua lui về ở cung riêng. Vua đổi niên hiệu là Diên Ninh, đại xá cho thiên hạ. Người đời bấy giờ ca ngợi tài năng và đức độ của Vua.

Đại Việt sử toàn thư ghi: ''Vua tuổi còn thơ ấu đã có thiên tư sáng suốt, vẻ người tuấn tú, đàng hoàng, dáng điệu nghiêm trang, sùng đạo Nho, nghe can gián, thương người làm ruộng, yêu thương muôn dân thực là bậc vua giỏi, biết giữ cơ đồ, không may bị cướp ngôi, giết hại. Thương thay!''.

Trước kia, Dương Thị Bí là mẹ Nghi Dân có tội với Lê Thái Tông nên Nghi Dân không được làm thái tử, mới ngầm chứa mưu gian nhòm ngó ngôi báu, cùng bọn đồng đảng là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng cầm đầu bọn vô lại côn đồ, đêm ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) bắc thang chia làm ba đường, trèo thành cửa Đông, lẻn vào cung cấm giết chết vua Lê Nhân Tông và Tuyên Từ Hoàng thái hậu.

Lê Nhân Tông bị giết lúc mới 19 tuổi, làm vua được 17 năm. Nghi Dân tự lập làm vua, nhưng chỉ được 8 tháng sau lại bị các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết bọn phản nghịch, giáng Nghi Dân xuống tước hầu, rồi lập Hoàng tử Tư Thành lên làm vua, đó là vua Lê Thánh Tông.

4. Lê Thánh Tông (Tư Thành) (1460 - 1497):

Lê Thánh Tông tự là Tư Thành sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) có tên húy là Hạo, con trai út của Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Giao (con gái Thái Bảo Ngô Từ) sống giữa chốn dân gian từ nhỏ đến năm lên 4 tuổi. Khi vua Nhân Tông buông rèm nghe chính sự, đón Tư Thành về phong làm Bình Nguyên Vương, cho ở trong cung để hàng ngày cùng Vua Nhân Tông và các Vương hầu khác học tập tại tòa Kính Diên. Tư Thành chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan chính, thông tuệ hơn người, được vua Nhân Tông rất yêu quý.

Ngày 6 tháng 6 năm Canh Thìn (1460) các quan đại thần phế truất Nghi Dân, rước Tư Thành lên ngôi vua lúc đó mới 18 tuổi.

Lê Thánh Tông hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn hiền tài ra giúp nước.

Khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, mở rộng giao lưu buôn bán, ban hành chế độ quân điền.

Coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia, bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông.

Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang niên hiệu Vua Lê Thánh Tông còn lại cho đến nay là một trong những bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do Sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn năm (Kỷ Hợi 1479 dưới sự chỉ đạo của Vua Lê Thánh Tông.

Lê Thánh Tông còn lập ra hội Tao Đàn gồm 28 vị tiến sĩ giỏi văn thơ nhất nước thời đó gọi là ''Tao Đàn nhị thập bát tú''  do chính nhà vua làm Nguyên súy.

Năm 1497, Lê Thánh Tông mất, ở ngôi 37 năm, thọ 56 tuổi, táng ở Chiêu Lăng.

5. Lê Hiến Tông (Lê Tăng) (1498 - 1504):

Lê Hiến Tông còn có tên húy là Huy, con trưởng của Lê Thánh Tông và mẹ là Trường Lạc thánh tử Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng, con gái thứ hai của Trình quốc Công Đức Trung.

Hiến Tông sinh ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461). Ông mất ngày 23 tháng 5 năm Giáp Tý (1504), ở ngôi được 6 năm, thọ 44 tuổi.

6. Lê Túc Tông (Lê Thuần) (6-6-1504 -7-12-1504):

Lê Túc Tông tên húy là Thuần, là con trai thứ ba của Lê Hiến Tông, mẹ là Trang Thuận Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hoàng, quê ở Bình Lăng, Thiên Thi, Hưng Yên.

Lê Túc Tông ham học hỏi, thân người hiền, vui điều thiện, đúng là một vị vua giỏi giữ nghiệp thái bình.

Lê Túc Tông lên ngôi vua ngày 6 tháng 6 năm 1504. Tháng 11 năm 1504 mắc bệnh nặng, biết không qua khỏi mới mời các quan triều thần đến để chỉ định người anh thứ hai là Lê Tuấn lên ngôi vua. Ngày 7-12-1504 vua Túc Tông mất, ở ngôi được 6 tháng, thọ 17 tuổi.

7. Lê Uy Mục (Lê Tuấn) (1505 - 1509):

Lê Uy Mục tên húy là Tuấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1488, mẹ là Chiêu nhân Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn (Hà Bắc), lên ngôi vua ngày 22 tháng 1 năm 1505.

Lê Uy Mục từ khi lên ngôi vua ham rượu chè, gái đẹp, thích giết người, tin dùng người họ mẹ.

Sự tàn bạo quá đáng của Lê Uy Mục đã gây bất bình trong dân chúng và triều thần.

Tháng 11 năm 1509, Giản Tu Công Oanh tự xưng là Cẩm Giang Vương ở Tây Đô (Thanh Hóa) đưa quân về chiếm Đông Kinh (Hà Nội) bắt được và bức Lê Uy Mục tự tử tháng 12-1509. Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 22 tuổi.

8. Lê Tương Dực (Lê Oanh) (1509 – 1516):

Lê Tương Dực tên húy là Oanh, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông, con thứ hai của Liến Vương Lê Tân và bà Huy từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Tuyên, người làng Thủy Chú, huyện Lôi Dương (Tức Thọ Xuân, Thanh Hóa), sinh ngày 25 tháng 6 năm 1495).

Sau khi giết Lê Uy Mục, Oanh tự lập làm vua.

Bản thân Lê Tương Dực cũng lao vào con đường ăn chơi trụy lạc. Tháng 5-1514 nghe sàm tấu của Hiệu úy Hưu Vĩnh giết chết 15 Vương Công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm.

Trịnh Duy Sản nhiều lần can ngăn, vua không nghe còn đem Sản ra đánh bằng trượng.

Tháng 4-1516, Trịnh Duy Sản sai đâm chết Tương Dực, Tương Dực ở ngôi được 7 năm, thọ 22 tuổi.

9. Lê Chiêu Tông (Lê Ý) (1516 - 1522):

Lê Chiêu Tông tên húy là Ý, có tên nữa là Huệ, cháu bốn đời của Lê Thánh Tông, con trưởng của Cẩm Giang Vương Lê Sùng và bà Hoàng thái hậu Trịnh Thị Loan, người xã Phi Bạo, huyện Thanh Chương (Nghệ An).

Lê Chiêu Tông sinh ngày 4 tháng 10 năm 1506 (Bính Dần). Sau khi giết Tương Dực, Trịnh Duy Sản và Lê Nghĩa Chiêu đón Lê Ý về tôn làm Vua Lê Chiêu Tông lúc đó mới 11 tuổi.

Dưới triều Lê Chiêu Tông giặc giã nổi lên như ong, dân chúng khổ sở về cảnh loạn lạc, đầu rơi máu chảy.

Mạc Đăng Dung là một trong những người phò lập vua, bằng tài năng quân sự nổi bật đã khôn khéo thâu tóm quyền hành. Quyền uy của Mạc Đăng Dung ngày một lớn. Mạc Đăng Dung cho con gái nuôi vào hầu Vua thực ra là để dò xét coi giữ. Mạc Đăng Doanh là con lớn của Mạc Đăng Dung làm chức Dục Mỹ hầu trông coi điện Kim Quang. Bố con Mạc Đăng Dung ngày càng có mưu đồ thoán đoạt.

Trước tình hình đó, Lê Chiêu Tông mưu ngầm với Trịnh Tuy tìm cách triệt hạ thế lực của họ Mạc. Mưu bị bại lộ, Vua phải bỏ chạy khỏi kinh thành.

Mạc Đăng Dung đã cùng triều thần lập Lê Xuân, em của Lê Chiêu Tông lên làm vua vào ngày 1 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522). Lê Chiêu Tông bị giáng xuống là Đà Dương Vương rồi bắt giết lúc đó mới 21 tuổi, làm vua được 6 năm.

10. Lê Cung Hoàng (Lê Xuân) (1522 -1527):

Lê Cung Hoàng tên húy là Xuân được Mạc Đăng Dung lập lên làm vua khi 15 tuổi.

Lê Cung Hoàng sinh ngày 26 tháng 7 năm 1507 (Đinh Mão). Năm 1524 Mạc Đăng Dung tự mình thăng tước Bình Chương quân quốc trọng sự Thái phó Nhân quốc công. Tháng 10 năm 1525. Mạc Đăng Dung tự làm Đô tướng dẫn tất cả thủy, lục quân vào đánh Thanh Hóa, bắt được Vua Lê Chiêu Tông đem về kinh sư giam cầm và đến tháng 12-1526 thì đem giết chết.

Sau khi giết Lê Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung rút quân về đóng ở Cổ Trai, nhưng vẫn chế ngự triều đình. Tháng 4-1527, Cung Hoàng sai Trung sứ Đỗ Hiếu để đến làng Cổ Trai tấn phong cho đăng Dung làm An Dương Vương.

Mặc dù được vua ân sùng hậu đãi và giao phó trọng trách, nhưng Mạc Đăng Dung vẫn kiên quyết chớp thời cơ giành ngôi hoàng đế về cho họ Mạc.

Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung đem quân từ Cổ Trai vào kinh đô Thăng Long ép Vua phải nhường ngôi, bắt Vua và Hoàng thái hậu giam ở Tây cung, vài tháng sau buộc Vua và Thái hậu tự tử. Như vậy Lê Cung Hoàng ở ngôi vua được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Kể từ Thái Tổ lên ngôi năm 1428 đến Lê Cung Hoàng bị giết vào năm 1527, trải qua 10 đời Vua, cả thảy đúng 99 năm. Các nhà sử học gọi Triều Lê Sơ.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 BKTT Nâng cao   Hành tinh của chúng ta   Niên biểu lịch sử Việt Nam
Hậu Trần (1407 - 1414)
Thời kỳ đấu tranh chống nhà Minh đô hộ
Triều Lê sơ (1428 - 1527)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
Nhà Lê Trung hưng (1533 - 1588)
Danh nhân thời Lê - Mạc
Thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh
Nhà Tây Sơn(1778 - 1802)
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
Hành tinh của chúng ta
Nhà nước - Pháp luật - Chính trị - Quân sự
Kinh tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Văn hóa - Xã hội
Bách khoa gia đình
Văn hóa thần bí Đông - Tây
Con người và những phát minh
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google