Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Các nhân tố chi phối sự hình...
Thiên văn vô tuyến và những...
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Nghe lỏm tín hiệu của những...
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Những chặng đường của kỷ...
Thiên hà
Tính tuổi của trái đất
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 BKTT Nâng cao   Văn hóa - Xã hội   Các nền văn minh trên đất nước Việt Nam   Văn minh Champa và văn hóa các dân tộc ít người


VĂN MINH CHAMPA

VĂN MINH CHAMPA

1. Nguồn gốc và điều kiện

a. Nguồn gốc của văn minh Cham pa

Cách đây khoảng 5.000 năm, một số cư dân hải đảo trên Thái Bình Dương đã đổ bộ lên vùng đất trung Trung bộ, định cư và lập nên những khu cư trú có cơ sở kinh tế và văn hóa riêng của mình. Dần dần, từ nền văn hóa đá mới, họ sáng tạo ra nghề luyện kim, bấy giờ chủ yếu là rèn sắt, và tạo nên một nền văn hóa sắt sớm mà khảo cổ học gọi là văn hoá Sa Huỳnh (một địa điểm thuộc huyện Đức Phổ Quảng Ngãi). Cư dân Sa Huỳnh thuộc tiểu chủng Mã Lai Đa đảo (Malaya polinésien) sống rải rác trên các châu thổ nhỏ của các sông Thu Bồn, Trà Khúc, Đồng Nai v.v… và các vùng ven núi, ven rừng của đất Nam Trung bộ và bắc Nam bộ ngày nay.

Ở đây không có mỏ đồng nhưng lại có một số núi có quặng sắt, do đó công cụ kim loại chủ yếu làm bằng sắt. Người ta tìm được nhiều rìu, dao, kiếm, giáo, lưỡi cuốc sắt bên cạnh một số ít mũi tên, đục xòe cân xứng bằng đồng. Người Sa Huỳnh cũng đã phát minh ra nghề nông dùng cuốc. Khảo cổ học phát hiện được nhiều lưỡi cuốc, thuổng, liềm bằng sắt.

Nghề làm đồ trang sức đạt trình độ cao. Cư dân Sa Huỳnh đã chế tác những chuỗi hạt bằng đá, bằng đồng, bằng mã não, những khuyên tai hai đầu thú đặc sắc Nghề gốm đã phát triển với việc tạo nên những bát đĩa các loại, bình có đế, vó đứng với các thứ sơn màu vàng, đỏ.

Người Sa Huỳnh có quan niệm riêng về thế giới bên kia thể hiện ở tục chôn người chết. Họ thường đốt xác chết, đổ tro xương vào các vò bằng đất nung cao khoảng 0.60m, đôi khi kèm theo đồ trang sức. Trên đất bắc Nam bộ, vùng châu thổ sông Đồng Nai, do điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn, người nguyên thủy đã làm nông nghiệp lúa nước và trồng nhiều cây lương thực khác, gia tăng các loại công cụ vũ khí.

Những thành tựu nghiên cứu của khảo cổ học đã xác nhận rằng, văn hóa Sa Huỳnh là nguồn gốc của nền văn minh Champa sau này.

b. Điều kiện tự nhiên: Vùng Nam Trung bộ, đất gốc của người Chăm, Đông giáp biển, Tây có nhiều núi cao của dải Trường Sơn. Các đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định... thường không rộng (khoảng từ 1200km2 - 1500km2), ít màu mở lại xen đất chân núi, khí hậu ôn hòa, mát quanh năm nhưng độ ẩm kém, mưa nhiều nhưng thất thường. Đất nhiều núi (giáp Tây Nguyên) tài nguyên khoáng sản không nhiều, rừng bao la có nhiều lâm sản quý từ gỗ quý, hương liệu, trầm hương đến tre trúc và các loại động vật quý hiếm khác nhau như voi, tê ngưu, hươu nai... Vùng biển dài, có nhiều hải đảo như quần đảo Hoàng Sa với nhiều sản vật quý đặc sắc như san hô, yến sào, các loại cá biển. Bờ biển có nhiều cửa thuận lợi cho thuyền bè ra vào buôn bán, trao đổi hay dong buồm đi đến các nước xung quanh.

c. Điều kiện kinh tế. Trên cơ sở các thành tựu đạt được ở thời Sa Huỳnh, cư dân ở đây mở rộng và phát triển nghề nông trồng lúa, dùng cuốc. Họ đã biết trồng hai vụ lúa, như sách lịch sử cổ Trung Quốc ghi: Bạch điền trồng lúa mùa, xích điền trồng lúa chiêm. Tuy nhiên, ruộng ít, làm lụng vất vả. Cư dân địa phương thường gọi là Chăm cổ (hay Chàm cổ phải trồng thêm kê, vừng, đậu, làm nghề đánh cá biển, vào rừng đánh bắt, hái lượm lâm sản quý, chăn nuôi voi, trâu bò, gà, lợn.

Kĩ thuật luyện sắt phát triển. Bên cạnh các công cụ sản xuất bằng sắt, có nhiều vũ khí sắt. Các nghề dệt vải, làm gốm, làm đồ trang sức cũng ngày càng phát triển hơn.

Cuộc sống đi dần vào thế ổn định và sự phân hóa xã hội cũng ngày càng tăng lên. Số lượng cư dân đông lên và bước đầu có quan hệ giữa vùng này, vùng khác. Hình thành những bộ lạc lớn, trong đó nổi lên hai bộ lạc Cau và Dừa ở hai đầu Nam, Bắc.

2. Thành tựu chính trị, xã hội

a. Nhà nước ra đời: Vào cuối thế kỉ I TCN, vùng đất Bình, Trị, Thiên, Nam Ngãi ngày nay nằm dưới chế độ thống trị của nhà Hán và là mộ phần của quân Nhật Nam, mang tên Tượng Lâm. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 SCN đã ảnh hưởng to lớn đến nhân dân Tượng Lâm và biến thành một định hướng cho cuộc đấu tranh giành tự do của họ. Năm 100 SCN hàng ngàn nhân đần Tượng Lâm nổi dậy ''đốt phá chùa công và dinh thự'' của bọn quan lại đô hộ. Không lâu sau, năm 137, nhân dân Tượng Lâm lại nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Khu Liên (vốn là danh từ chung chỉ vị tù trưởng hay vua). Thứ sử Giao Chỉ đem quân Cửu Chân và Giao Chỉ đi đánh nhưng quân sĩ địa phương đã quay giáo chống lại bọn đô hộ. Chính quyền nhà Hán rất lúng túng, lực lượng của chúng ở Nhật Nam không đàn áp nổi nghĩa quân. Các thứ sử Giao Chỉ, thái thú Cửu Chân bị gọi về nước và thay bằng những tên khác quỷ quyệt và nhiều kinh nghiệm hơn. Bọn này đã dùng của cải mua chuộc các tù trưởng, dùng mưu mẹo lừa phỉnh họ và cuối cùng dẹp yên được cuộc nổi dậy. Có lẽ, trong những năm sau đó, để có được một lực lượng đông đảo hơn, hai bộ lạc Cau và Dừa đã hòa hợp, liên kết nhau lại. Cuộc đấu tranh chống đô hộ Hán lại được tiếp tục Vào cuối thế kỉ II, nhân triều Hán suy sụp nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân liên tục nổi dậy đấu tranh, các tù trưởng Tượng Lâm lại kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Vào khoảng năm 190 - 192, cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi. Tượng Lâm trở thành một nước độc lập mà sử Trung Quốc xưa gọi là nước Lâm ấp. Nhà nước ra đời. Vị vua đầu tiên là Xơri Mara. Tấm bia ở Võ Cạnh (Nha Trang) dựng vào cuối thế kỉ II cũng ghi lại tên vị vua đầu tiên đó.

Nhà nước Lâm Ấp ra đời đánh dấu một sự biến chuyển lớn của xã hội Tượng Lâm, mở đầu thời đại văn minh.

Sau nhiều thế kỉ tồn tại và phát triển, theo ghi chép của bi kí địa phương vào cuối thế kỉ VI, một vương triều mới được thành lập: Vương triều Gangaragia, chính thức gọi tên nước là Champa. Champa là tên một bông hoa trắng thơm, tên khoa học là Michelia Champacca, vốn được một số tộc người ở ấn Độ đặt tên cho tiểu quốc của mình Cư dân Champa từ đây được gọi chung là người Chăm (hay người Chiêm Thành).

b. Thể chế chính trị: Cũng như ở các nước phương Đông khác, nhà nước Champa theo thể chế quân chủ chuyên chế. Vua nắm mọi quyền hành từ chính trị đến kinh tế, tôn giáo. Chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa ấn Độ, các vương hiệu đều có chữ Varman (chẳng hạn như Harivarman, Sinhavarman...). Bề tôi thấy vua thì phải quỳ và vái trước khi thưa. Chỉ có vua mới được ở nhà có lầu cao, giường nằm, mặc áo gấm, đi kiệu có che lọng trắng. Vua đi đâu thường cưỡi voi, che lọng trắng, có quân sĩ gióng trống đi theo, lại có nhiều phi tần theo hầu mang mộc che và khay trầu. Trong cung có nhiều vũ nữ, nhạc công và đủ loại đầy tớ.

Chỉ có vua mới có quyền ban cấp đất đai cho đền chùa, quan lại.

Bộ máy chính quyền trung ương đơn giản. Dưới vua có một tể tướng (adhipati) và hai đại thần một văn, một võ. Dưới nữa có các thuộc quan, chia thành 3 cấp:

Luận đa tính

Caluân trí đế

Át tha gia lam

Cả nước được chia thành 4 châu (hay quản hạt), vốn xưa là những tiểu quốc khác nhau: Amaravati (Quảng Nam và mạn Bắc), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa) Pandu-ranga (Nanh Thuận, Bình Thuận). Châu chia thành huyện và làng. Mỗi làng có thể có từ 200 500 hộ. Châu huyện có các chức phất la và kha luân đứng đầu. Giúp việc các phất la và kha luân có hàng trăm viên quan giải quyết các công vụ và thu thuế.

Ngoài ra, ở Trung ương có nhiều tăng lữ Bàlamôn vừa phụ trách việc tôn giáo, vừa góp ý vế chính trị. Một số tăng lữ này là người Ấn Độ.

Quân đội rất hùng mạnh có khoảng 40000 - 50000 người, chủ yếu là bộ binh, song thủy binh, kị binh và tượng binh cũng đông và mạnh.

Hiện nay các nhà khoa học chưa phát hiện được những ghi chép về luật. Hình phạt có: đánh bằng gậy, lấy gậy nhọn đâm vào đầu, cho voi giày, nộp phạt bằng trâu, trói ở bờ đê hoang...

Vương quốc Champa tồn tại cho đến thế kỉ XVII, trải qua nhiều triều đại, ban đầu đóng đô ở Sinhapura (Trà Kiệu Quảng Nam) sau dời sang Inđrapura (Đồng Dương-Quảng Nam) rồi vào Vijaya (Trà Bàn - Bình Định).

c. Quan hệ xã hội: Chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn Độ, dân Chàm chia thành 4 đẳng cấp: Bàlamôn, Ksatrya, Vaishia và Suđra. Quanh nhà vua chỉ có hai đẳng cấp Bàlamôn và Kasatrya. Tuy nhiên sự phân chia này nặng danh nghĩa hơn thực tế.

Tầng lớp xã hội thấp nhất là nô lệ (Hulun).

Chế độ phụ quyền đã thống trị, song người phụ nữ vẫn giữ một địa vị cao trong xã hội. Người Trung Quốc xưa đến thăm Chămpa đã nhận xét: đối với người chiêm Thành ''phụ nữ là tất cả, nam giới không là cái gì''.

3. Thành tựu kinh tế

Cơ sở kinh tế của văn minh Champa là nghề nông trồng lúa nước. Họ làm cả hai loại ruộng: ruộng nước và ruộng bậc thang. Hệ thống thủy lợi khá phát triển, người Chăm đã biết làm máng nước, hệ thống kênh dẫn nước vào ruộng và dùng bánh xe tát nước. Ngoài lúa tẻ, lúa nếp họ trong nhiều kê, đậu, mía, bông, cây ăn quả, đặc biệt là Dừa và Cau (do đó đã hình thành hai thị tộc lớn: Cau và Dừa).

Thủ công nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong kinh tế. Các nghề nuôi tằm, keo tứ, dệt lụa, nghề trồng bông dệt vải cát bối đều phát triển, phục vụ việc may quần áo của vua quan, may cờ, phướn, quần áo nam nữ. Nghề làm đồ trang sức được nâng cao. Theo bia Pô Nagar (ở Nha Trang) ''Vua đeo đây vàng có đính ngọc trai, ngọc bích... thân thể Người trang sức phủ kín bởi vương miện, đan vàng, hoa tai, những tràng hồng ngọc''. Sách Cựu Đường thư của Trung Quốc cũng viết “Vua mặc áo trắng cổ bối... đeo trân châu, dây chuyền vàng làm thành chuỗi... các phu nhân... mình trang sức dây chuyền vàng, chuỗi ngọc trai...”.

Người Chăm giỏi rèn sắt, đúc tượng, xây dựng đền tháp, đan lát, đóng thuyền... Mặc dầu vậy, do hạn chế của điều kiện tự nhiên, nền kinh tế Champa không ổn định, sự giao lưu buôn bán giữa các miền hầu như không phát triển ''không có tiền, người ta không dùng tiền để mua bán''.

4. Tôn giáo, tín ngưỡng

Người Chăm từ sớm đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ. Tôn giáo chính là ấn giáo. Thần Inđra (thần của các thần) được tôn thờ ở khắp nơi. Bên cạnh đó là ba vị thần chính của ấn giáo là Brahma, Vishnu và Xiva. Tuy nhiên, khi du nhập ấn giáo người Chăm lại đặt thần Xiva lên trên hết, đồng thời thần Xiva cũng được hòa với lên ngưỡng cổ truyền của người Chăm. Họ đã tạc những ngẫu tượng Linga Xiva hoặc kết hợp thần Xiva và vợ là Uma để thành ngẫu tượng Xiva Uma vừa có râu vừa có vú. Nhiều đền tháp ấn giáo được xây dựng.

Đạo Phật du nhập vào Champa muộn hơn vào thế kỉ IX, X thuộc dòng Đại thừa. Nhiều chùa Phật ra đời cùng những văn bia nói về giáo lí nhà Phật.

Điều đáng chú ý là các đền, chùa ấn giáo, Phật giáo đều được vua ban cả một vùng đất rộng bao quanh, có nô lệ, dân thường phục vụ. Vào khoảng thế kỉ XI, Hồi giáo cũng được du nhập nhưng không phát triển.

Trong nhân dân, tín ngưỡng cổ truyền còn lại trong tục thờ Linga (dương vật), Yoni (âm vật) và lưỡng thần Linga Yoni. Ngoài ra kết hợp với việc thờ vợ Xiva,  người Chăm dựng lên tục thờ Thánh mẫu An Pu Nagara.

Người Chăm cũng giữ tục thờ Tổ tiên. Đối với người chết thì thường hỏa táng, lấy tro xương bỏ vào một cái vò bằng đất nung, đậy chặt và ném xuống biển. Khi Vua chết, vợ thường bị hỏa táng theo.

Trong sinh hoạt thường ngày, người Chăm thường ở nhà sàn, quan và dân đều trải chiếu trên sàn để ngủ, đi chân đất. Giày dép chỉ dành cho vua quan. Trang phục đơn giản, thường lấy vải quấn quanh mình, nam nữ đều quấn ngang tấm vải cát bối từ lưng xuống đến chân gọi là ''can man''. Họ cũng rất thích trang sức các loại hoa tai, dây chuyền vòng tay.

Hôn nhân một vợ một chồng phổ biến. Có tục ''nữ đi hỏi rể'', người làm mối thường là một Bàlamôn. Tháng 8 là mùa cưới

5. Những thành tựu về tư duy

a. Chữ viết và văn bản: Người Chăm sử dụng chữ viết rất sớm. Từ thế kỉ II, bia Võ Cạnh (Nha Trang khắc chữ Phạn (chữ ấn Độ cổ đã xuất hiện. Chữ Phạn trở thành phương tiện ghi chép chính thống suốt thời gian tồn tại của quốc gia Champa, rất được xem trọng. Điều đáng chú ý là, trên cơ sở chữ Phạn, người Chăm đã sáng tạo ra chữ viết riêng của mình. Chữ viết chăm cổ gồm có 16 nguyên âm, 31 phụ âm và 32 dấu âm sắc. Bia khắc chữ Chăm cổ đầu tiên là bia ở Đông Yên Châu (Quảng Nam), dựng vào thế kỉ IV. Đây là tấm bia cổ nhất ghi bằng chữ địa phương của Đông Nam Á.

Người Champa hầu như không biết làm giấy. Bia đá trở thành chất liệu để con người ghi lại những sự việc trong đời mình, do đó hầu như các triều vua đều có dựng bia, các đền chùa có dựng bia. Champa không có văn học và giáo dục, mặc dầu trong nhân dân còn truyền tụng nhiều câu chuyện cổ tích hoặc dân gian.

Người Chăm theo lịch Xaca của Ấn Độ, tính bắt đầu từ ngày tháng 3 (hay 3 tháng 3) năm 78. Mỗi năm gồm 12 tháng và cũng có tên gọi như lịch âm của Trung Quốc và Việt Nam, mỗi tuần có 7 ngày.

b. Nghệ thuật kiến trúc: Tập trung chủ yếu ở việc xây dựng đền tháp. Hầu như ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều còn lại các di tích đền tháp Champa. Nổi tiếng nhất là quần thể kiến trúc Mỹ Sơn, cách Trà Kiệu khoảng 20km. Ở đây tập trung 68 công trình kiến trúc khác nhau được xây dựng vào khoảng các thế kỉ VII - VIII. Trà Bàn (Bình Định) cũng là một khu dinh thự Champa (vốn là kinh đô lâu đời) các tháp Khương Nữ (Quảng Nam), Mạn Sơn (Bình Định), Pô Nagar (Nha Trang – Khánh Hòa) đều là những tháp lớn nổi tiếng.

Tháp Chăm được dựng theo mô hình tháp của ấn Độ, nhưng là một khối vững chắc xây bằng gạch, có cửa chính và cửa giả. Tháp gồm nhiều tầng, xếp nếp, tầng trên lặp lại tầng dưới nhưng nhỏ dần và tụ lại thành đỉnh nhọn vươn lên cao. Điều đáng chú ý là gạch xây được gắn với nhau bằng một thứ nhựa cây mà nhân dân gọi là dầu rái. Tháp Chăm nhỏ hơn, gọn và đơn giản hơn tháp Ấn Độ hay tháp Campuchia. Người Chăm ít trang trí bằng đá hay dùng vật gia cố mà dùng nếp xếp tinh vi thay cho tầng bệ, lợi dụng gò cao thay cho nên đá lớn.

Người Chăm cũng xây dựng nhiều thành lũy quần sự như thành Khu Túc, Thành Lồi ở Quảng Bình, thành Hỗ ở Phú Yên.

c. Điêu khắc trên đá, gỗ rất phát triển, thể hiện ở các bức phù điêu với nhiều mô típ hoa văn cành lá, vũ nữ, đài hoa... ở các đền chùa còn để lại nhiều tượng thần khác nhau, nhiều tượng có phong cách và đường nét hiện thực dân dã như tượng nữ thần Pacvati ở Hương Quế (Quảng Nam), tượng cầm kiếm hình tàu lá dừa, mộc hình mo cau v.v.. Thời Lý, nhiều thợ điêu khắc Chăm đã được đưa về Đại Việt tạo nên nhiều bức phù điêu ở các chùa đền.

Nghệ thuật âm nhạc, nhảy múa phát triển. Hiện nay còn để lại nhiều nhạc cụ như đàn tì bà 5 dây, sáo, trống các loại, những bức phù điêu trên đá mô tả những vũ nữ đang nhảy múa rất đẹp.

Tóm lại, trong nhiều thế kỉ tồn tại và phát triển độc lập, người Chăm đã xây dựng được một nền văn minh đặc sắc, mang nhiều ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ giống như nhiều nước Đông Nam Á đương thời.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 BKTT Nâng cao   Văn hóa - Xã hội   Các nền văn minh trên đất nước Việt Nam   Văn minh Champa và văn hóa các dân tộc ít người
Giới thiệu về văn minh Champa và văn hóa các dân tộc ít người
Văn minh Champa
Một số nét chính về văn hóa các dân tộc ít người
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
Hành tinh của chúng ta
Nhà nước - Pháp luật - Chính trị - Quân sự
Kinh tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Văn hóa - Xã hội
Bách khoa gia đình
Văn hóa thần bí Đông - Tây
Con người và những phát minh
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google