Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Một số dạng vượn - người và...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Ứng dụng của laser - một thành...
Những chặng đường của kỷ...
Lược sử tiến hóa loài người
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Sự va chạm giữa những thiên thể
Các nguồn năng lượng mới
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 BKTT Nâng cao   Văn hóa - Xã hội   Triết học   Lịch sử - Trường phái triết học


TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

Imanuen can tơ (1724-1804), nhà triết học được đánh giá là một trong những người vĩ đại bậc nhất của tư tưởng phương Tây. Thế giới quan của ông chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán theo Cantơ, thế giới cấu tạo từ vật chất luôn vận động và biến đổi không ngừng và thông qua lực hút, lực đẩy các vật tương tác với nhau. Về sự hình thành của vũ trụ ông cho rằng khởi đầu thế giới là những vật chất hỗn độn, nhờ lực vạn vật hấp dẫn nên chúng tụ lại thành những đám mây. Do các luồng gió xoáy hình thành từ lự hút và lực đẩy trong các đám mây, vật chất đông cứng lại theo hình cầu. Bởi lực hút không đủ mạnh để hút tất cả vật chất vào một điểm cho nên mới hình thành nhiều hành tinh và nhiệt độ của những hành tinh này phụ thuộc vào lực ma sát khi chúng được tạo thành. Cũng ở thời kỳ tiền phê phán này, Cantơ còn đưa ra tư tưởng bất khả tri, cho rằng con người không có khả năng nhận biết bản chất của sự sống. Thời kỳ phê phán, Cantơ đề xướng việc nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học đặt ra trước đây, ông xác định lại một cách phê phán các quan niệm về lý tính, khả năng suy diễn và về khả năng nhận thức của con người. Theo Cantơ, triết học là giải đáp những vấn đề mọi người quan tâm trong cuộc đời họ, nó không dừng lạ ở vấn đế nhận thức đơn thuần. Cantơ cho rằng sự thông thái thể hiện ở hành động hơn là ở tri thức, triết học chứa đựng sự thông thái một cách hoàn hảo và nó chủ yếu là xác định bản chất của con người. Cantơ đưa ra ba vấn đề mà triết học phải lý giải: Tôi có thể biết được các gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hy vọng cái gì? Ba vấn đề này ứng với ba khía cạnh lớn trong mối quan hệ giữa con người với thế giới: nhận thức, thực tiễn, giá trị. Trong hệ thống triết học của mình, Cantơ cho rằng mọi vật trong thế giới bên ngoài chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và cá biệt. Với việc đề xuất cách tiếp cận theo xu hướng ''các vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta'' Cantơ đã buộc phải thừa nhận Vật tự nó không nhận thức được và tri thức con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, tức là Vật tự nó. Theo Cantơ thì Vật tự nó là sự biểu hiện những gì thuộc về hiện tượng mà con người chưa nhận thức được, thứ nữa nó là bản chất của mọi vật tồn tại bên ngoài con người. Cuối cùng nó là những chuẩn mực hoàn hảo tuyệt đối mà con người không thể đạt tới được, ví dụ như sự tự do, sự bất tử và Chúa...Ông cho rằng nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận là làm rõ các tri thức lý luận của khoa học có được như thế nào. Theo Cantơ con người không thể biết bản chất đích thực của sự vật cho nên với cả những gì con người đã biết hoặc sẽ biết ông đều quy về lĩnh vực kinh nghiệm cảm tính, tức là Hiện tượng luận. Như vậy nhận thức luận là hoạt động nhận thức của con người như một chủ thể trong khuôn khổ hiện tượng luận. Thời kỳ Tiền phê phán, Cantơ coi không gian và thời Gian thuộc về lĩnh vực Vật tự nó, về sau ông coi không gian là hình thức bên ngoài còn thời gian là hình thức bên trong của kinh nghiệm cảm tính, như vậy chúng đều thuộc lĩnh vực hiện tượng luận. Về lôgíc, Can tơ phân biệt hai loại: lôgíc đại cương, tức lôgic hình thức và lôgíc tiên nghiệm trong đó lôgíc tiên nghiệm được coi trọng đặc biệt. Còn tư duy sử dụng các khái niệm được Cantơ gọi là Giác tính. Ông coi các phạm trù không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà là kết quả sáng tạo của riêng Giác tính trên quan điểm cơ bản là khẳng định con người chỉ nhận thức được những gì do chính mình tạo ra. Ông đưa ra 12 phạm trù được chia thành 4 nhóm, xếp đầu mỗi nhóm là: Phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù hình thái. Các phạm trù trên vượt khỏi phạm vi ý thức cá nhân vì đặc tính phổ quát và tất yếu của chúng. Nhưng các cặp phạm trù, theo Cantơ, chỉ đơn thuần là hình thức của tư tưởng, chưa hề bao chứa một nội dung nào. Về việc quan niệm lý tính có khát vọng xâm nhập vào Vật tự nó để đạt tới tri thức tuyệt đối, Cantơ cho rằng đã làm phát sinh những mâu thuẫn, lý do khả năng con người không cho phép làm được việc đó. Các mâu thuẫn này hầu như không thể khắc phục được vì nó nằm ngay trong bản thân lý tính của con người. Ông khẳng định tồn tại 4 mâu thuẫn cơ bản của lý tính và mỗi mâu thuẫn được tạo từ hai luận đề đối lập nhau. Các mâu thuẫn này là những mặt đối lập biện chứng, vì vậy tùy từng trường hợp chúng có thể cùng đúng hoặc cùng sai. Theo Cantơ các nguyên lý đạo đức độc lập với mọi lĩnh vực hoạt động khác của con người, lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý do đó nó là chuẩn mực của đạo đức. Phạm trù trung tâm của đạo đức học chính là tự do và Cantơ quan niệm tự do theo các khía cạnh: nó là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính hoạt động độc lập đối với quy luật tự nhiên trong lĩnh vực hiện tượng luận. Nó tồn tại tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận, nó là cái thuộc lĩnh vực Vật tự nó. Như vậy con người theo Cantơ, tồn tại đồng thời ở cả hai thế giới: Thế giới hiện tượng luận và thế giới vật tự nó. Kết luận cuối cùng mà triết học Cantơ đạt đến là: Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, bản thân giới tự nhiên cũng là kết quả hoạt động của con người.

Giôhan Gôtlíp Phíchtơ (1762-1814), nhà triết học người Đức, ông kế tiếp sự nghiệp của Cantơ, coi con người là trung tâm của các vấn đề triết học. Theo Phichtơ luận đề xuất phát điểm của triết học về con người là? Tôi là tôi, điều này nó lên rằng ngay từ khởi đầu, bằng hoạt động của mình, con người sáng tạo ra chính mình. Tôi là Tôi nẩy sinh ra luận đề thứ hai Tôi không phải là cái không tôi, luận đề này đối lập với luận đề sinh ra nó. Và phát sinh luận đề thứ ba, luận đề này chỉ sự tương tác giữa Tôi với không-tôi và ngược lại. Về thực chất thì trong ba luận đề này có hai quan niệm về cái Tôi: Cái Tôi tự nó sản sinh ra là cái Tôi có trước cả giới tự nhiên và loài người, nó là cái Tôi tuyệt đối. Cái Tôi do cái Tôi tuyệt đối sinh ra là cái Tôi tương đối, hữu hạn. Cái Tôi tuyệt đối là sự thể hiện con người lý tưởng còn cái Tôi tương đối chỉ con người đang sống cụ thể có sinh có diệt hàng ngày. Chính hoạt động của cái Tôi tuyệt đối là nguồn gốc duy nhất của mọi cái trên thế giới. Vì thế quá trình cái Tôi kinh nghiệm cải tạo thế giới cũng là quá trình nó tiến dẫn tới cái Tôi tuyệt đối. Khi mà con người nhận thức và cải tạo được thế giới thì nó trở thành cái Tôi tuyệt đối và hoàn toàn được tự do. Về giai đoạn cuối đời Phíchtơ chuyển dần sang lập trường duy tâm vì ông không giải quyết được các mâu thuẫn trong quan niệm của mình.

Phriđrích Vinhem Giôdép Sen linh (1775-1854), được coi là bậc tiền bối của triết học Hêghen, ông cải biến cái Tôi tuyệt đối của Phíchtơ thành cái Tuyệt đối và coi nó là đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên cũng như loài người. Cái tuyệt đối, theo Senlinh, là sự đồng nhất giữa tinh thần và vật chất, giữa chủ thể và khách thể. Ông cho rằng giới tự nhiên là giai đoạn phát triển thấp, giai đoạn vô thức của cái tuyệt đối. Giới tự nhiên phát triển qua ba giai đoạn: giai đoạn hình thành thế giới từ những mặt đối lập chủ yếu thông qua lực hút và lực đẩy, giai đoạn triết lập cơ chế chung của vật chất nhờ những mối liên hệ động lực học, giai đoạn hình thành thế giới hữu cơ, đỉnh cao là xuất hiện con người. Về lịch sử Senlinh cho rằng nó chính là quá trình hoạt động của con người sáng tạo ra ''giới tự nhiên thứ hai'' của mình. Theo ông hình thức thể hiện cao nhất của cái tuyệt đối chính là hoạt động sáng tạo nghệ thuật của con người. Giai đoạn sau những năm 1805, thế giới quan của Senlinh ngày càng ngả sang xu hướng tôn giáo với việc coi tự nhiên là sản phẩm sáng tạo của Chúa, cái tuyệt đối cũng chính là Chúa và con người chỉ có thể nhận biết được một cách mơ hồ bằng trực giác.

Gióocgiơ Vinhem Phriđrich Hêghen (1770-1831), thà triết học biện chứng lỗi lạc người Đức, hệ thống triết học của ông chia làm ba phần chính: triết học tinh thần, lôgíc học và triết học tự nhiên. Theo Hêghen, con người là sản phẩm cũng là giai đoạn cao nhất của tinh thần tuyệt đối, và tinh thần tuyệt đối ở đây theo như ông quan niệm là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể. Hêghen khẳng định: ''chân lý không chỉ là thực thể mà còn là chủ thể'', ông coi tư duy khái niệm là hình thức biểu hiện cao nhất của tinh thần tuyệt đối, và nhận thức khái niệm là nhận thức cao nhất của con người. Hêghen cho rằng sự phát triển là quá trình phủ định biện chứng, trong đó cái mới vừa thay thế vừa kế thừa cái cũ, ông đưa ra tam đoạn thức: Phản đề, chính đề, hợp đề, biểu hiện cho ý niệm tuyệt đối sơ khai, tự nhiên và xã hội. Đây là ba giai đoạn cơ bản trong quá trình phát triển của tinh thần tuyệt đối, nó cũng là quá trình nẩy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong chính bản thân tinh thần tuyệt đối. Theo Hêghen tư duy và ý thức con người chỉ phát triển ở trong mối quan hệ và quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên, và ý thức con người là sản phẩm của tiến trình lịch sự nhân loại được coi là hiện thân của tinh thần tuyệt đối ông cho rằng có ba hình thức biểu hiện cơ bản tinh thần tuyệt đối: nghệ thuật, tôn giáo, triết học, trong đó triết học là hình thức thể hiện cao nhất và trọn vẹn nhất. Như vậy triết học là sự khái quát lý luận lịch sử nhân loại. Khoa học lôgíc là bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Hêghen, vì nó nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất nhưng là điểm xuất phát của toàn bộ hệ thống, ví như ông viết: ''vận động lên phía trước là sự quay trở về nền tảng về điểm đầu và chân lý''. Hêghen coi lôgíc là khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy luật của tư duy, hơn nữa ông phân biệt hai dạng tư duy: tư duy tự nó, chính là tinh thần tuyệt đối tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực, tư duy cho nó tức là tư duy con người đây là tư duy tự nó phát triển cao nhất, là giai đoạn tư duy có ý thức. Hêghen khẳng định giới tự nhiên cũng chỉ là tư duy thể hiện dưới dạng các sự vật vật chất. Luận điểm xuyên suốt toàn bộ lôgíc học và hệ thống của ông là: ''cái gì hợp lý thì hiện thực và các gì hiện thực thì hợp lý''. Với Hêghen, phép biện chứng là linh hồn của lôgíc học. Ông quan niệm tư duy như mọi quá trình phát triển biện chứng và như sự thống nhất của ba yếu tố: Giác tính, biện chứng, tư biện. Theo Hêghen triết học tự nhiên là nghiên cứu lý luận giới tự nhiên được hiểu như tồn tại khách quan của tinh thần, quá trình hình thành giới tự nhiên từ tinh thần đồng thời với quá trình tinh thần ngày càng biểu hiện ra thành tự nhiên, quá trình này diễn ra liên tục và bất tận. Ông khẳng định tồn tại nhiều cấp độ phát triển khác nhau về chất của tự nhiên, như cơ học, vật lý học... Về pháp quyền, Hêghen cho rằng gia đình và xã hội công dân chịu sự chỉ đạo của nhà nước, nhà nước chính là ''sự ngao du'' của Chúa trời trong xã hội con người, nó thể hiện tinh thần tuyệt đối. Nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử. Theo quan niệm của ông lịch sự là phương thức tồn tại và kết quả hoạt động của con người nhưng nó chỉ diễn ra theo những quy luật khách quan và tất yếu, không theo sự định hướng của bất cứ cá nhân nào. Trên phương diện thẩm mỹ học, Hêghen cho rằng sáng tạo nghệ thuật vừa mang tinh chủ quan của con người lại vừa mang nội dung khách quan nhất định.

Lútvích Phoiơbắc (1804-1872), nhà triết học duy vật, người Đức, lúc đầu ông chịu ảnh hưởng của triết học Hêghen, về sau ông ngày càng ngả sang lập trường duy vật Theo Phoiơbắc, con người là sản phẩm của tự nhiên, bản chất của nó là tổng thể các khát vọng, nhu cầu, ham muốn và khả năng tưởng tượng của chính mình, đồng thời ông khẳng định con người có sự thống nhất hữu cơ với tự nhiên. Phoiơbắc tuyên bố chỉ đưa ra một khái niệm và mọi thứ đều xoay quanh khái niệm này, đó là khái niệm Cá thê. Ông cho rằng cá thể bao hàm toàn bộ con người, bản chất của con người là một bản chất chung và bản thân nó là cá thể. Vì tôn giáo Phoiơbắc quan niệm nó là sản phẩm tất yếu của cả tâm lý cá nhân lẫn bản chất con người. Tóm lại ông cho rằng tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hoá.

Các Mác (1818-1883), nhà triết học Đức Kế thừa, phát triển và phê phán đến mức độ đảo ngược tinh hoa của triết học Đức ông là người sáng lập ra Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, ông cho rằng triết học phải đấu tranh chống lại tất cả các thần trên trời cũng như dưới trần thế và nó phải phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn nhằm giải phóng nhân loại bị áp bức. Trên những thành quả ấy ông là người sáng lập ra duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, một phương pháp luận cách mạng về khoa học để nhận thức thế giới tự nhiên và xã hội loài người, nhận thức khoa học và đấu tranh giai cấp. Theo Mác: trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ-tức những mối quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại hình sự tồn tại và phát triển của xã hội quyết định ý thức của họ... Mác cho rằng các quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối cùng của của quá trình sản xuất xã hội...nhưng những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy. Theo Mác, với hình thức xã hội đó, thời kỳ tiền sử của xã hội loài người đang kết thúc.''Sự tồn tại xã hội quyết định ý thức con người và các mối quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình sản xuất xã hội''. Mác cho rằng ý niệm là vật chất được đem truyền vào trong đầu óc con người và được cải biến tại đó. Về phép biện chứng của mình, ông cho rằng: ''trong quan niệm tích cực về các hiện tồn, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định các hiện tồn đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất nó có tính chất phê phán và cách mạng''. Với nhận thức được quá trình phát triển sự vật là quá trình phủ định của phủ định, với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có thể nói Mác là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử triết học thế giới.

Chủ nghĩa thực chứng. Là hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy lý, nó trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu với sự khởi xướng của A.Côngtơ và sau đó là Spenxơ và Minlơ. Giai đoạn này nó ra đời như một sự chối bỏ triết học, loại trừ những suy lý trừu tượng và tuyên bố chỉ hoàn toàn biết tới ''sự việc thực chứng''. Giai đoạn thứ hai xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX với những đại biểu là Makhơ và Avênariút, giai đoạn này chủ nghĩa thực chứng đề xướng một quan niệm duy tâm chủ quan về kinh nghiệm được con là tổng số của những cảm giác con người, không liên quan gì tới thực tại khách quan. Từ quan niệm sự vật là kết hợp phức tạp của những yếu tố, các nhà thực chứng cho rằng khách thể không thể có được nếu không có chủ thể và các quy luật của tự nhiên không tồn tại một cách khách quan, chân lý khách quan cũng không tồn tại. Giai đoạn thứ ba là chủ nghĩa thực chứng mới, chủ nghĩa này ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phát triển cao vào những năm 50, nó có nhiều chi phái.

Chủ nghĩa nguyên tử lôgic ra đời từ những năm 1920 với các đại biểu Rutxen, Vitghentainơ, chủ nghĩa này cho rằng yếu tố cấu tạo nên tự nhiên không phải là những sự vật vật chất, mà là những đơn vị lôgic, tức là những phán đoán trên cơ sở tri giác. Với ''chủ nghĩa nhất nguyên trung lập'', Rutxen muốn xoá bỏ sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, cho rằng tinh thần và vật chất chỉ là hai hình thức khác nhau của kinh nghiệm: tài liệu chủ quan là kinh nghiệm trực tiếp, tài liệu khách quan là kinh nghiệm gián tiếp. Chủ nghĩa nguyên tử lôgíc quy đối tượng và nhiệm vụ của triết học ở sự phân tích ngôn ngữ khoa học bằng cách lợi dụng những thành tựu của lôgíc ký hiệu. Triết học phân tích ngôn ngữ do Vítghenstainơ và Murơ đề xướng, nó không chỉ chú ý tới ''ngôn ngữ khoa học'' được xây dựng một cách nhân tạo mà còn chú ý tới ''ngôn ngữ tự nhiên''. Trung tâm phát triển của chủ nghĩa thực chứng mới là ''trường phái Viên'' với các tên tuổi như Cácnáp, Slích, Nâyrát...Theo lập trường của chủ nghĩa thực chứng thì nó phủ định phép quy nạp và đề xuất chủ nghĩa quy giản, tức là loại bỏ những mệnh đề lý thuyết, thay vào đó mệnh đề kinh nghiệm, mệnh đề nguyên tử và mệnh đề Proteole. Đặc biệt sự ra đời của chủ nghĩa vật lý là một chủ nghĩa quy ước đặc biệt của chủ nghĩa thực chứng mới, nhằm thống nhất lại tất cả mọi khoa học trên cơ sở một ngôn ngữ thống nhất, là bước nhấn tới triệt để về quan niệm của chủ nghĩa thực chứng mới. Và chủ nghĩa này đã quy giản ngôn ngữ vật lý về ngôn ngữ hiện tượng chủ nghĩa'', là thứ ngôn ngữ của những điều có thể quan sát trực tiếp bằng cảm quan của chủ thể.

Chủ nghĩa hiện sinh, ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt tới cao trào trong những năm 50-60. Chủ nghĩa hiện sinh chia ra thành nhiều trào lưu: chủ nghĩa hiện sinh vô thần, chủ nghĩa hiện sinh công giáo, chủ nghĩa hiện sinh tin lành. Nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ các bậc tiền bối như Pascan, ĐềCáctơ, Cantơ, Phichtơ, Nítsơ, nhưng ''hiện tượng học'' mà người góp phần xây dựng quan trọng là Etmunđơ Huxéclơ mới là cơ sở quyết định cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh. Huxéclơ quan niệm mục tiêu của ''hiện tượng học'' là tìm ra được cốt lõi căn bản của bản chất và theo ông có ba thủ tục để đạt tới là: Quy giản hiện tượng, Quy giản bản chất, Sự phân tích mối tương quan giữa hiện tượng nhận thức và đối tượng nhận thức. Đối tượng của chủ nghĩa hiện sinh là sự đồng nhất thế giới hiện hữu và bản thể. Cái ở ngoài tri thức, ở ngoài tư tưởng con người được phái hiện sinh coi là ''vũ trụ tự nó'', cái tự nó đã tạo cho thực thể một sự sung mãn đầy ắp khép kín, tự nó mờ mịt về chính nó, tức là không thức. Tự nó là chính nó và không là gì nữa cho nên nó không cần cứu cánh và triệt để hơn nó không có lý do cho sự tồn tại và không có nghĩa gì cả. Chủ nghĩa hiện sinh không hoàn toàn phủ nhận tính khách quan của thế giới vật chất, không thừa nhận ''vật tự nó'' của Cantơ, nhưng nó cũng nghiêng theo chủ nghĩa bất khả tri. Những người theo chủ nghĩa hiện sinh còn cho rằng hiện hữu của tạo vật là hiện hữu ''tự nó'', còn hiện hữu của con người là hiện hữu ''vị nó'' và do đó vũ trụ là ''vũ trụ vị tôi.'' Các nhà hiện sinh cho sự xuất hiện của hiện hữu như một sự tình cờ, một huyền nhiệm lớn và chỉ có những ai thực sự muốn một cuộc sống cao hơn mới có hiện hữu. Điểm quan trọng nữa là các nhà hiện sinh khẳng định ở con người, hiện hữu có trước bản chất, còn ở sinh vật thì ngược lại, bản chất có trước hiện hữu. Về bản chất họ cho rằng bản chất phổ quát làm con người trở thành người, nhưng chỉ có bản chất cá nhân mới dẫn đến sự tự do lựa chọn bản chất chính là lựa chon tự do và sự lựa chọn này không có cơ sở, không khuôn mẫu, tất cả chỉ là dự phóng mà dự phóng có nghĩa không có sự hơn kém và thiện ác sẽ không phân biệt được. Vì không ngừng phải lựa chọn cho nên con người chỉ còn biết nhập cuộc, phải biết ''xuống thuyền'' và đây chính là khả năng của sự hiện hữu, khả năng để trở thành cái mà con người muốn trở thành. Như vậy xuất hiện cái gọi là Tha nhân, sự hiện hữu của tha nhân là tội tổ tông của con người cho nên nó gắn chặt với thân phận con người. Mặt khác Tha nhân chính là kẻ tranh chấp với cái tôi chủ thể vì thế Tha nhân là địa ngục làm cái tôi bị tha hoá. Chủ nghĩa hiện sinh cho tha hoá là hiện tượng vĩnh cửu vì nó thuộc bản chất con người và họ đề cao sự cô đơn, cho nó là cảm tính của những cá nhân kiệt xuất.

Chủ nghiã Tômát mới. Chủ nghĩa này là triết học của Tômát Đacanh, ra đời từ thời trung cổ ở Tây Âu. Bước sang thế kỷ XIX nó được coi là triết học chính thống của giáo hội Cơ đốc giáo. Chủ nghĩa Tômát mới cho rằng bản thể là hiện thực phổ quát nhất, bằng cách loại suy, có thể tìm thấy nó ở bất kỳ khía cạnh nào. Chúa là bản thể tối cao, tuyệt đối, và bản chất với hiện hữu của Chúa là thống nhất cho nên Chúa là nguyên nhân cũng là nguồn gốc mọi hiện hữu. Bản thể tối cao là sự viên mãn của mọi sự hoàn hảo, đã hình thành sẵn toàn bộ nội dung của mình, toàn bộ sự xác định của mình. Chủ nghĩa Tômát chia bản thể thuần túy thành nhiều dạng. Theo họ những bản thể riêng biệt, những sự vật, hiện tượng nảy sinh là kết quả của cơ cấu, của sự vận động, của sự thực hiện tiềm năng hướng tới hành vi bản thể tối cao không nằm trong sự phân chia này vì Chúa là hành vi thuần túy Về căn bản, cơ sở triết học tự nhiên của chủ nghĩa Tômát cho rằng vật chất là bản nguyên thụ động hoàn toàn, nhờ có hình thức không vật chất, nó sẽ hướng tới một dạng nhất định. Những người theo chủ nghĩa này cho rằng sự phát triển và tiến hoá có nguồn gốc trong ý chí của Chúa cho nên nội dung của nó là sự quy định sẵn của Chúa. Họ chia chân lý làm hai loại: Chân lý tương đối, và chân lý tuyệt đối trong khi đó con người vì mang tội tổ tông cho nên không có khả năng nhận thức được chân lý tuyệt đối mà phải nhờ vào đức tan mới nhận ra được. Chủ nghĩa Tômát quan niệm thế giới có ba kiểu quan hệ giữa cá nhân với xã hội: Chủ nghĩa cá nhân (ám chỉ chủ nghĩa tư bản), chủ nghĩa tập thể (ám chỉ chủ nghĩa xã hội) và chủ nghĩa đoàn kết. Về căn bản chủ nghĩa Tômát khẳng định con người được sáng tạo theo hình ảnh của Chúa, cho nên nó phải tự hoàn thiện theo hình ảnh ấy và coi đó là điều luôn phải hướng tới.

Chủ nghĩa duy lý phê phán. Đây là chủ nghĩa do Pôpơ, nhà triết học người Anh sáng lập. Về căn bản ông chống lại chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sự. Pôpơ cho rằng các 1 thuyết nói chung không tồn tại, có chăng chỉ là các giả thuyết mà giả thuyết này cũng bị bác bỏ vì không thuộc các lý thuyết chân thực. Nguyên tắc phủ định là cốt lõi toàn bộ học thuyết của Pôpơ, ông muốn thay thế nguyên tắc kiểm chứng của chủ nghĩa thực chứng mới bằng nguyên tắc phủ định. Pôpơ muốn thực hiện lôgíc phát minh chứ không phải chỉ phân tích tri thức đã có sẵn, bằng phương pháp thử nghiệm và loại bỏ sai lầm nhằm phân tích tri thức, lý luận với tư cách là sự phủ nhận những lý luận trước đó. Đối tượng của phát minh là tiền đề và phản tiền đề. Pôpơ còn đưa ra học thuyết về ''ba thế giới'': thế giới các hiện tượng vật lý, thế giới tâm lý cá nhân, thế giới lôgic của tri thức và văn hoá.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 BKTT Nâng cao   Văn hóa - Xã hội   Triết học   Lịch sử - Trường phái triết học
Triết học Tây Âu giai đoạn trung cổ
Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại
Triết học cổ điển Đức
Những thời kỳ lớn của triết học thế giới trước khi xuất hiện triết học Mac
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
Hành tinh của chúng ta
Nhà nước - Pháp luật - Chính trị - Quân sự
Kinh tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Văn hóa - Xã hội
Bách khoa gia đình
Văn hóa thần bí Đông - Tây
Con người và những phát minh
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google