Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Lịch sử hình thành trái đất
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Các giải nobel về sinh lý học...
Ứng dụng của laser - một thành...
Những người được giải thưởng...
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Các nhân tố chi phối sự hình...
Pulsar, một đồng hồ thiên...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Những sự kiện nổi tiếng thế giới


CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP ANH

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP ANH

Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu bằng một sự việc:

Năm 1764, cô con gái nhỏ Giên-ny con người thợ mộc Giêm Hac-gri-vơ ở Black-bơn quận Lan-cat-sơ (Blackburn Lancashire) đang chơi, vô ý đánh đổ chiếc máy kéo sợi của mẹ cô, cọc suốt dựng lên nhưng vẫn tiếp tục quay. Giên-ny định nâng máy kéo sợi lên, Hac-gri-vơ vội ngăn con lại. Ông bước đến gần, ngồi cạnh chiếc máy, lấy tay quay cọc suốt và nghĩ ngợi: một cọc suất dựng lên vẫn chuyển vậy  tại sao lại không xếp thành một hàng cọc suốt, dùng một một vòng quay để kéo? Chúng sẽ đồng thời chuyển động được. Nếu được, cùng một lúc sẽ kéo được mấy sợi? Nghĩ vậy, ông lập tức bắt tay và thiết kế máy. Ông vẽ hết trang này đến trang khác sửa đi sửa lại, cuối cùng cũng xong. Ông theo bản thiết kế làm ra một máy kéo sợi có 8 cọc suốt, bên trên có một vòng quay xa dài, chỉ cần quay xa, 8 cọc suốt đều quay một lúc, kéo được liền 8 sợi bông, năng suất kéo sợi tăng hơn trước gấp 8 lần. Ông đặt tên chiếc máy này là Máy kéo sợi Giên-ny.

Sự ra đời của máy kéo sợi Giên-ny đã kéo theo hàng loạt cuộc cách mạng kỹ thuật. Điều đặc biệt là cuộc cách mạng này được tiến hành ở gia đình và trong nhà máy, nhưng đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến bộ của loài người, sự phát triển của lịch sử.

Máy kéo sợi Giên-ny cho sợi nhỏ và dễ dứt, không thể làm sợi dọc được, lại quay bằng tay rất tốn sức. Năm 1769, một nhà phát minh là Ac-crai-tơ ở Pri-xtơn (Preston) thuộc quận Lan-cat-sơ đã sáng tạo ra một máy kéo sợi mới. Lúc đầu máy của ông dùng sức ngựa, sau ông cải tiến dùng sức nước, gọi là “máy kéo sợi sức nước”. Máy gồm có 4 cặp trục quay chạy bằng sức nước, sợi kéo ra tương đối săn, có thể dùng làm sợi dọc. Năm 1771, Ac-crai-tơ xây dựng một nhà máy kéo sợi ở Man-xe-xtơ, nơi có nguồn nước phong phú, để sản xuất với  qui mô lớn. Mỗi máy có thể kéo được mấy chục cọc suốt, năng suất rất cao. Chẳng bao lâu loại máy này phố biến rộng trong cả nước. Từ đó, các nhà máy qui mô lớn sử dụng máy móc bắt đầu thay thế công trường thủ công.

Nhưng người ta không thoả mãn lại với máy Giên-ny và máy sức nước. Một công nhân trẻ, thông minh, chịu khó, người Bôn-tơn (Bolton) tên là Xa-my-en Crôm-tơn, qua 5-6 năm thí nghiệm tiêu tốn hết cả số tiền tích cóp được, cuối cùng, năm 1779, anh đã cho ra đời một loại máy kéo sợi mới. Loại máy này cho sợi vừa nhỏ, vừa săn. Anh đặt tên là máy kéo sợi “Mu-lơ”. Mu-lơ (Mule) tiếng Anh nghĩa là ''con la'', do đó còn gọi là máy kéo sợi con la (con vật lai giữa ngựa và lừa, có đủ đặc tính ưu việt của ngựa và lừa). Về sau “máy Mu-lơ” lại được người khác cải tiến trở thành máy kéo sợi tự động, mỗi máy có thể đồng thời chuyển được 2000 cọc sợi. Việc cơ khí hoá nghề kéo sợi dần dần được thực hiện.

Máy kéo sợi không ngừng cải tiến cũng đã thúc đẩy cải cách máy dệt. Năm 1785, một mục sư đạo Thiên chúa người Anh Et-môn Cac-rai-tơ với sự giúp đỡ của một số thợ mộc và thợ rèn, theo gợi ý của máy kéo sợi sức nước, đã phát minh ra máy dệt vải chạy bằng sức nước. Năm 1791, ông đã xây dựng nhà máy dệt đầu tiên của nước Anh. Từ đây, ngành dệt từ sản xuất thủ công đã nhảy vọt sang sản xuất đại công nghiệp. Những thay đổi về máy dệt tay đã thúc đẩy cuộc cách mạng kỹ thuật trong các ngành động lực, luyện kim, giao thông vận tải và cơ khí chế tạo.

Cuối thế kỷ XVII, người ta đã bắt đầu nghiên cứu việc lợi dụng sức hơi nước. Năm 1698, Sa-ve-ry, người Anh, phát minh máy bơm chạy bằng hơi nước. Năm 1705, Niu-khơ-nơn áp dụng máy bơm này vào các hầm mỏ, nhưng hiệu suất thấp, tốn nhiều than. Để cải tiến máy hơi nước dùng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp, sau nhiều năm cố gắng, năm 1768 một người thợ sửa chữa tên là Giêm Oát, đã phát minh ra máy làm lạnh, nhờ đó tạo ra máy hơi nước đơn động vừa đỡ tốn thời gian vừa đỡ tốn than. Cái máy hơi nước do Giêm Oát tạo ra, người bấy giờ gọi là ''ác quỉ'' vì nó phun ra lửa khói trong lúc hoạt động. Sau đó Giêm Oát với sự giúp đỡ của nhà doanh nghiệp Bôn-tơn, trong 10 năm làm thí nghiệm, năm 1782 đã chế tạo thành công máy hơi nước phức động. Máy này thông qua các thanh truyền động có thể làm được động tác xoay chuyển, do đó có thể dùng làm động lực cho các loại máy. Năm 1784 Giêm Oát lại chế tạo ra trục khuỷu, năm 1790 phát minh bộ nén xi-lanh và pit-tông, cuối cùng hoàn thiện qui trình của máy hơi nước.

Việc ứng dụng rộng rãi máy hơi nước đã thúc đẩy ngành luyện kim phát triển. Năm 1785, nhà máy luyện thép cận đại đầu tiên ra đời ở Fen-tơ. Máy hơi nước cũng được áp dụng vào trong ngành giao thông vận tải. Năm 1788, Wi-li-am Xai-min-tơn chế tạo máy hơi nước chạy tầu thuỷ, đến năm 1802, chiếc tầu thuỷ chạy bằng động cơ đầu tiên trên thế giới chạy thử thành công. Năm 1807, một người Mỹ du học ở Anh là Phôn-tơ đóng chiếc tầu thuỷ có tên là ''Crai-mông-tua'. Mẫu đóng tàu đó đã được áp dụng vào thực tế, năm 1819 người Anh vượt biển Đại Tây dương bằng tầu thuỷ chạy hơi nước. Năm 1840, nước Anh chính thức thành lập công ty vận tải tầu thuỷ.

Một phát minh quan trọng khác trong ngành vận tải là sự ra đời của xe lửa và xây dựng đường sắt. Năm 1804, Tri-vê-xich phát minh máy hơi nước cao áp, đã chế tạo đầu máy xe lửa, kéo được 5 toa xe đi được 10 dặm Anh. Năm 1814, công trình sư Xti-phe-xơn chế ra chiếc xe lửa đầu tiên. Măm 1823 ông phụ trách tuyến đường sắt Xtôc-tơn Đa-lin-tơn. Hai năm sau, năm 1825, qua cải tiến đầu máy “Lữ hành”, ông đã cho chạy một đoàn tầu trên tuyến này chở được 450 hành khách và mấy chục tấn hàng. Chuyến đi thành công đã mở ra một trang mới trong ngành vận tải đường sắt.

Cơ khí hoá công nghiệp phụ thuộc vào ngành chế tạo cơ khí, đồng thời ngành cơ khí chế tạo phát triển lại thúc đẩy những phát minh công cụ. Năm 1825, Crai-mơn-tơ đã phát minh máy bào và máy tiện. Sau đó, năm 1839 Nê-xmit phát minh ra búa máy. Đến năm 1848 Rô-bô phát minh máy phay. Cùng với sự việc sử dụng các loại máy công cụ, đến giữa thế kỷ XIX, ngành chế tạo máy ra đời, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh về cơ bản đã hoàn thành.

Với cuộc cách mạng này, nhân lại đã thực hiện được bước nhảy vọt từ sản xuất công nghiệp theo lối công trường thủ công tiến sang sản xuất đại công nghiệp cơ khí hoá.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Những sự kiện nổi tiếng thế giới
Khởi nghĩa Spac-tac
Đế quốc La Mã thành lập
Cách mạng công nghiệp Anh
Văn hóa phục hưng
Cuộc cách mạng đường biển
Liên hợp quốc
Khối Nato
Hiệp định chung về mậu dịch và quan thuế
Cộng đồng châu Âu (EU)
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google