Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Các nhân tố chi phối sự hình...
Một sự kiện hiếm có: những...
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Ứng dụng của laser - một thành...
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Các nguồn năng lượng mới
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Văn hóa các Dân tộc Việt Nam


DÂN TỘC MNÔNG

DÂN TỘC MNÔNG

Người Mnông là cư dân sinh sống lâu đời ở cao nguyên miền Trung nước ta, cư trú chủ yếu ở các huyện Lắc, MĐrắc, Đắc Nông, Đắc Mil, Không Oách, Ea Súp của tỉnh Đắc Lắc, ngoài ra còn có một bộ phận ở phía Bắc tỉnh Bình Phước và phía tây nam tỉnh Lâm Đồng. Dân số khoảng 67.842 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tên tự gọi là Mnông. Do cư trú phân tán và mối quan hệ giao lưu về kinh tế giữa các vùng miền, giữa các dân tộc anh em khác còn bị hạn chế, nên đã phân chia ra nhiều nhóm địa phương như: Mnông Gar, Mnông nông, Nông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông nông Sitô . . . Song có một điều thống nhất, tất cả các nhóm này đều tự nhận tên gọi chung là Mnông.

Người Mnông là cư dân làm nông nghiệp, dùng cuốc. Nguồn lương thực chủ yếu của họ là từ làm nương rẫy. Ruộng nước chỉ cày cấy, trồng trọt ở những vùng gần đầm hồ hoặc ven sông suối. Cây lương thực chính là lúa tẻ, lúa nếp có trồng nhưng không đáng kể. Ngoài lúa là cây lương thực chính, còn trồng ngô, khoai, sắn làm nguồn cung cấp lương thực phụ, hỗ trợ cho sinh hoạt hàng ngày.

Đặc điểm những vùng cư trú của người Mnông là nơi có đất đỏ ba dan. Người Mnông thường canh tác ở trên đồi hoặc bên các sườn núi rừng già, nương dốc. Cho đến nay, phương thức canh tác cổ truyền của người Mnông vẫn là chọc lỗ để tra hạt, với con dao rừng (viêk) dùng để phát rẫy và chiếc rìu để chặt uốn cây, dùng cuốc làm tơi đất, xới đất và chiếc gậy tra hạt, phần đầu được bịt sắt, hạt giống dược đựng vào trong các ống lồ ô, công cụ khi làm cỏ lúa là văng y út và bàn cào. Khi đến vụ thu hoạch thì dùng liềm để cắt tuốt lấy hạt cho vào giỏ, rồi tập trung lại đổ vào gùi đem về chứa vào kho thóc tại nhà, cũng có khi là kho thóc để ở ngoài sân hoặc trên nương rẫy.

Bước vào thời vụ, người Mnông sử dụng đàn trâu có khi lên tới hàng chục con, không phải để cày xới đất, mà để giẫm nát những khoảnh ruộng nước ở ven sông, ven suối, hay ở những thung lũng sâu có nước, ven dầm, ven hồ trước khi trồng cấy Mạ chỉ gieo trong thời hạn một tháng rồi nhổ, không xén ngọn như người Việt đem đi cấy.

Người Mnông làm ruộng trên nương rẫy, trồng xen canh với ngô, khoai, sắn, bầu bí và các loại dưa ăn quả. Việc khai khẩn mở rộng diện tích đất canh tác theo hình thức luân khoảnh, tùy theo chất đất, độ màu mỡ phì nhiêu, mỗi một làng sử dụng một số diện tích nhất định, cũng như mỗi một gia đình cũng vậy, ranh giới được xác định dựa vào những đặc điểm tự nhiên bằng những tảng đá, bờ sông, con suối, hay gốc cây ven núi, ven rừng.

Nghề thủ công phát triển mạnh trong cộng đồng người Mnông, nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp. Một số ngành nghề đã đạt tới trình độ điêu luyện, có kỹ thuật cao, đem hiệu quả có giá trị về kinh tế, mà nổi bật là nghề dệt vải, kéo sợi, thêu nhuộm các màu, trang trí hoa văn trên vải, nghề đan tre, vật dụng có nhiều kiểu đáng rất đẹp, nguyên liệu bằng song, mây, tre, 1á vốn sẵn có ở nơi cư dân sinh sống. Còn một số nghề phụ khác cho phụ nữ, ngoài việc trồng bông, đan dệt ở mỗi làng còn có một số người làm đồ gốm thô, nặn đất bằng tay, sản phẩm của họ chủ yếu 1à nồi đất, bát ăn cơm và loại vò, hũ nung bằng lò lộ thiên; nghề rèn công cụ còn có một số ít chưa thật sự phát triển mạnh ở các làng Mnông. Đặc biệt ở vùng Buôn Đôn, Ea Súp có nghề săn bắt và thuần dưỡng vào rừng nổi tiếng khắp nơi (cho đến nay nghề săn bắn thú rừng, bắt voi về thuần hóa không còn như trước do quy định việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm).

Người Mnông vẫn áp dụng theo tập quán cũ, mỗi sản Phẩm, hàng hóa chủ yếu để đem đổi lấy thứ cần dùng, theo phương thức hàng đổi hàng, nhất là những vùng sâu vùng xa không tiện đường giao thông.

Làng của người Mnông thường quy tụ ở những nơi chân núi, gần sông, suối, đầm, hồ để tiện sử dụng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Nhà ở nền đất (nhà trệt) thường thấy xuất hiện trong các làng thuộc nhóm địa phương như: Nông Gar, Nông Sitô, còn ở nhà sàn thì có các nhóm Chít Knenh, Riăm v.v. . .

Đặc biệt nhà sàn của các nhóm: Mnông Nông, Nông Gar, Nông Preh lưu giữ được nhiều màu sắc đường nét, dấu ấn cổ truyền, hơn cả kiểu dáng kiến trúc nhà sàn hiện nay. Do sống gần gũi với dân tộc Êđê anh em, có sự trao đổi, giao lưu, nên đã đồng điệu mô phỏng theo lối kiến trúc kiểu nhà của người Êđê giống cả cách trang trí bên trong và quy định sử dụng cho các ngôi thứ thành viên trong gia đình. Có một đặc điểm chung là nhà của người Mnông dài từ 20 mét đến 40 mét, được dựng bằng nhiều cột trụ làm điểm tựa, không có vì kèo, nhà nền đất, mở cửa ra vào ở phía mái, còn ở nhà sàn thì mở cửa ra vào ở phía hai hồi. Một căn hộ dưới mái ngôi nhà nền đất, bao giờ cũng dành riêng một diện tích làm kho để chứa thóc (riêng kho thóc được làm trên sàn cao), phía dưới sử dụng làm bếp đun, để nấu ăn. Vật liệu làm nhà nền đất bằng thân cây gỗ nhỏ, còn nhà sàn làm theo kiểu nhà dài Êđê thì đòi hỏi phải có đủ số lượng gỗ thân cây to để làm cột.

hiện nay, một số vùng xa xôi hẻo lánh người Mnông sinh sống còn có thói quen ăn bốc. Cơm canh, thức ăn đổ vào máng làm bằng tre. Đây là do một phần tập quán còn sót lại, một phần khác do còn thiếu vật dụng, bát đĩa để dùng trong gia đình. Còn đa số các nhóm Mnông hiện nay đã chuyển sang dùng bát đũa để ăn cơm, đã trở thành một thói quen, tập quán mới. Bữa ăn hàng ngày của người Mnông chủ yếu bằng gạo tẻ nấu trong nồi đất nung. Từ xa xưa, tổ tiên họ vẫn nấu cơm lai (gạo cho vào ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy, khi làm mang theo món cháo chua, đựng trong những quả bầu khô. Người Mông Sitô thường ăn muối, ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú rừng, cá suối.

Công việc chăn nuôi gia súc gia cầm chưa thật sự phát triển. Việc chăn nuôi trâu, lợn, gà vịt không nhằm mục đích phát triển để cải thiện sinh hoạt mà chỉ dùng làm đồ vật hiến sinh vào những dịp cầu cúng. Còn các loại rau xanh, rau có củ, cây có hoa có quả, được trồng trên rẫy và hái lượm để bổ sung có nguồn thức ăn.

Đặc biệt, với người Mnông, rượu cần là một thứ không thể thiếu. Tất cả các nứa tuổi, từ nam nữ, trẻ già ai cũng thích uống rượu cần và hút thuốc lá cuốn. Người Mnông có tập quán cưa bằng một số răng cửa, xâu thủng lỗ tai để đeo đồ trang sức, hoa tai tự chế tác bằng ngà voi, hay cũng có thể làm bằng nứa tre trúc, tạo dáng thành một khúc tròn vàng óng, cũng có khi làm bằng thỏi gỗ quý, phải đeo ở hai tai một vật nặng, mà tai của các cụ ông cụ bà kéo xệ xuống gần chấm vai, có như thế mới được cho là đẹp, là người sang trọng, ngoài ra còn có tập quán cà răng, căng tai, nhuộm răng đen và ăn trầu.

Người Mnông đàn ông đóng khố cởi trần, đàn bà mặc váy quần buông dài trên mắt cá. Dù là áo dành cho đàn ông hay đàn bà, đều chui đầu, áo của nam dài quá mông, áo nữ ngắn may sát vào thân. Mặt khố, váy áo đều thêu dệt những hoa văn truyền thống, có màu sắc đường nét rất đẹp trên nền chài sẫm. Phương tiện vận chuyển của người Mnông chủ yếu chiếc gùi cõng trên lưng nhờ có hai quai quàng qua hai vai, khi cũng dùng đến trâu làm sức kéo, một số gia đình còn cả voi ngựa để vận chuyển hàng hóa, đồ gỗ vật nặng, việc lại vận chuyển vùng sông nước thì có thuyền độc mộc.

Xã hội của người Mnông là chế độ mẫu hệ. Khi có quan hệ hôn nhân, vợ chồng cư trú cả hai bên, ở nhà trai thời gian nhiều hơn, còn lại về cư trú bên nhà gái. Vợ chồng mới cưới nếu cư trú ở phía bên nào, thì bên ấy phải chịu phí tổn nhiều hơn cho ngày lễ cưới. Các con đều theo họ mẹ, tên của cá nhân cũng gọi tên riêng của một người nào đấy, gần gũi với họ mẹ, khi người ấy đã chết. Hiện tượng này cho ta thấy những dấu vết của tổ chức công xã thị tộc còn lại rõ nét trong cộng đồng xã hội người Mnông. Sống dưới một mái nhà dài có ít nhất ba cặp vợ chồng đến bốn cặp vợ chồng cư trú, cá biệt cũng có ngôi nhà có đến sáu, bảy cặp vợ chồng sinh sống. Đó là những hình thức tổ chức công xã gia đình cổ xưa, chính vì thế tổ chức làng trong xã hội Mnông truyền thống thường chỉ quy tụ mười nóc nhà dài.

Làng (bon hay buôn) là cơ sở của xã hội. Các thành viên của làng bao gồm thành viên của mười dòng họ hợp thành một công xã láng giềng. Người đứng đầu là Rnút, điều hành những công việc chung. Mọi người có nghĩa vụ thực hiện những quy ước tập quán truyền thống của làng. Mỗi làng cũng có bến nước ăn và nghĩa địa chung.

Người Mnông tin ở thần quyền, có các vị thần linh trong ý niệm như thần nông, thần voi. Khi người chết cho vào quan tài mô phỏng hình dáng con trâu. Người Mnông không có tục cải táng, nhưng theo tập quán cổ truyền đến một năm sau thì làm lễ bỏ mả, Trên phần mộ của người chết có dựng một nhà mồ, có trang trí những hình khắc gỗ vẽ hoa văn ba màu đen, đỏ, trắng.

Đời sống văn hóa tinh thần của người Mnông cũng phong phú như truyện cổ, tục ngữ, ca dao mang tính chất sử thi. Nhạc cụ được làm bằng trúc, nứa, tre, bương. Ngoài ra còn có các bộ chiêng, cồng, trống. Nổi bật là chiếc đàn đá nổi tiếng của người Mnông đã tìm thấy ở cao nguyên Đắc Lắc năm 1919 tại một làng cửa người Mnông.

Người Mnông có lịch sử lâu đời ở cao nguyên miền Trung, có tinh thần đoàn kết đấu tranh bảo vệ nền độc lập tự chủ rất sớm. Trong phong trào nghĩa quân chống Pháp năm 1914 đo Ntrang Long, B hiết lãnh đạo, đã bền bỉ kháng chiến liên tục suốt trong vòng 23 năm, nghĩa quân Mnông đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ khu căn cứ kháng chiến, làm thất bại và gây thương vong tổn thất cho nhiều đơn vị quân đội viễn chinh Pháp, làm cho chúng nhiều phen phải kinh hồn bạt vía trong đó có tên thực dân Henri Maitre bị nghĩa quân Mnông giết chết.

Tinh thần của Ntrang Long. và B hiết đã nêu cao ý chí già làng giữ nước chống kẻ thù xâm lược trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Giờ đây người Mnông lại đoàn kết mộ lòng, xây dựng quê hương và bảo vệ Tổ quốc.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Văn hóa các Dân tộc Việt Nam
Dân tộc Ba Na
Dân tộc Hrê
Dân tộc Mnông
Dân tộc Xtiêng
Dân tộc Bru - Vân Kiều
Dân tộc Cơ Tu
Dân tộc Gié - Triêng
Dân tộc Mạ
Dân tộc Khơ Mú
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google