Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Sự tìm kiến những hành tinh...
Niên đại địa chất
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Sự hình thành các lục địa và...
Những hậu quả của nền văn minh...
Những biện pháp phóng ngừa...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Những người được giải thưởng...
Những chặng đường của kỷ...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Làng xóm Việt Nam   Tết làng


Tranh tết

Tranh tết

Nói đến Tết, không thể bỏ qua tranh Tết được, tranh Tết không phải chỉ riêng trẻ con chơi, người lớn cũng chơi tranh Tết, duy tranh Tết của người lớn có khác với tranh Tết trẻ con.

Tranh tết người lớn

Để đón xuân về, người ta trang hoàng nhà cửa, và trong những đồ trang trí phải kể tranh Tết. Đây là những tranh nhắc lại những điền tích trong truyện cổ, đề cao tinh thần độc lập cũng như nền đạo đức của phương Đông.

Có người treo giữa phòng khách một bức tranh Anh hùng độc lập tượng trưng bởi một con ó đậu trên mỏm đá cao.

Hoặc có người treo trên vách bốn bức tranh về bốn mùa, tượng trưng bởi bốn loại cây có hoa hay không có hoa: mai, lan, cúc, trúc. Cũng có khi là bức tranh trúc tước vẽ con chim sẻ đậu trên cành trúc, hoặc bức tranh Lã Vọng, vẽ Khương Thái Công câu cá ở Tây Kỳ.

Những tranh trên ta thường thấy ở những gia đình trí thức, còn ở những gia đình bình dân đó là những bức tranh vẽ những cảnh trong các truyện Tàu: Tang Quác, Chinh Đông, Chinh Tây... hoặc cũng có khi là những cảnh trong các truyện Việt Nam: Thạch Sanh, Nhị Độ Mai, Quan Âm Thị Kính...

Cũng có khi là những tranh vẽ những đoạn sử của dân tộc: Phù Đổng Thiên Vương đổi giặc Ân, An Dương Vương và truyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sơn Tinh và Thủy Tinh v.v...

Tất cả những bức tranh giới bình dân ưa thích thường gồm từng bộ, mỗi bộ bốn tờ và một tờ có ba hình ảnh, tổng cộng mỗi bộ mười hai hình ảnh.

Tại những gia đình khá giả và trí thức trong làng, những tranh treo ngày Tết thường là những tranh Tàu, nghĩa là tranh do người Tàu sản xuất và bán tại Việt Nam, có khi là một bức như bức tranh Lã Vọng, hoặc bức tranh Anh hùng độc lập, có khi thành bốn bức, ta gọi là tứ bình. Bốn bức này có thể tả cảnh bốn mùa như mai, lan, cúc, trúc hay vẽ về nghề nghiệp như ngư, tiều, canh, độc...

Có nhà, thay vì tranh Tàu, treo những bức tranh cổ cũng những đề tài trên, những bức tranh cổ này có thể do người Việt Nam vẽ, có thể do người Tàu vẽ, và là của gia truyền của từng gia đình. Những bức tranh cổ gia truyền này, ngày thường được gói cất đi, chỉ được đem treo vào dịp Tết, hoặc vào những dịp chủ nhân tiếp khách lạ.

Lại có người trong giới trí thức không ưa treo tranh Tàu, ngày Tết cũng treo tranh, nhưng đây là những tranh in mộc bản, sản xuất tại Việt Nam, cũng với những đề tài trên.

Tranh Tết của những gia đình bình dân cũng có hai loại: tranh Tàu và tranh bản xứ. Tranh Tàu in trên giấy trắng với kỹ thuật tinh vi hơn và chỉ vẽ lại những cảnh nhắc trong truyện Tàu. Tranh bản xứ in mộc bản, nét vẽ trông thô sơ, cũng vẽ những cảnh trong truyện Tàu, nhưng bên những bức tranh này, có rất nhiều những bộ tranh vẽ những sự tích ghi trong các truyện Việt Nam.

Nhiều người dân quê tinh thần quốc gia rất mạnh, ngày Tết chỉ chơi tranh Việt Nam với những bức vẽ về lịch sử Việt Nam hoặc về các sự tích trong các truyện Việt Nam.

Tranh trẻ em

Đây là những bức tranh đặc biệt Việt Nam, nhắc lại những sinh hoạt hàng ngày của dân quê Việt Nam, hoặc đôi khi những truyện cổ tích Việt Nam, hoặc những điều người Việt Nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau.

Nhiều tác giả ngoại quốc đã nhắc tới loại tranh này với những sự phân tích tâm lý rất tỉ mỉ về người Việt Nam.

Tiến lộc

Những tranh trẻ em này, thường chỉ những trẻ em nhà quê ưa thích, các trẻ em ở thành thị, bị ảnh hưởng bởi sự chung đụng với ngoại quốc, nhất là với Tây phương dưới thời Pháp thuộc, không chơi tranh Tết hoặc nếu có chơi tranh Tết thì đây cũng là những bức hình cắt trong sách báo Tây phương.

Vả chăng ở thành thị các em cũng không có chỗ nào để dán tranh, không như các em ở nhà quê, ngày Tết đến, ngoại trừ nhà thờ và phòng khách của người lớn, các nơi tường vách khác đều là các chỗ đề các em dán tranh.

Bước chân vào một nhà dân quê trước hoặc sau Tết ít ngày, mới đến cổng ta thấy ngay hai bức tranh đối nhau:

Hai bức tranh này là hai bức tranh Tiến tài, Tiến lộc vẽ hình hai vị thần mũ áo triều phục văn quan, một vị mang biển Tiến tài, một vị mang biển Tiến lộc. Tục cho rằng dán hai bức tranh này ngoài cổng, tài lộc sẽ kéo vào trong nhà, và với năm mới, hai vị thần Tiến Tài, Tiến Lộc sẽ mang sự thịnh vượng lại.

Cũng có nhà dán ngoài cổng không phải hai bức tranh Tiến Tài, Tiến Lộc, mà là hai bức tranh Vũ Đinh Thiên Ái. Đây là hai vị thần y phục vô tướng, mỗi vị vác một thanh long đao. Hai vị thần này trừ tà ma quỷ quái. Người ta dán hai bức tranh này, ngoài cửa để ma quỷ không dám vào trong nhà quấy nhiễu.

Vào trong nhà, trên các vách tường có thể, ta thấy la liệt những tranh:

Tranh đàn gà mẹ con, tượng trưng cho sự phúc đức đa đinh. Và đây cũng nói lên một cảnh sinh hoạt của người dân đồng quê: nuôi gà. Bức tranh lai còn tượng trưng cho tình mẹ thương con, con gà mái mẹ ấp ủ đàn con, sẽ vì đàn con mà chống lại một bạo lực.

Tranh con trống. Con gà trống tượng trưng cho sự bất khuất không sợ kẻ thù, đồng thời nó cũng biểu hiện một đức tính cao quý là chữ Tín: hàng ngày nó gáy canh không bao giờ sai. Gà trống là bạn của dân quê, nó đánh thức mọi người dậy đúng giờ đúng khắc để lo việc làm ăn.

Tranh Lý ngư vọng nguyệt, hai con cá chép đối nhau, nhìn bóng trăng. Tranh này nhắc lại sự tích Cá chép vượt vũ môn để hóa rồng. Đây là một sự khuyến khích các trẻ em phải cố gắng học hành để một mai thi đỗ cũng như cá chép vượt vũ môn vậy. Và tranh này cũng nhắc nhở người ta sự cần cù kiên nhẫn: con cá chịu khó còn vượt được vũ môn để hóa rồng thì con người ta hễ muốn là được, nhưng cần phải biết lập chí.

Tranh đàn lợn mẹ con cũng nhắc lại một cảnh sinh hoạt đồng quê: nuôi lợn. Ngoài ra tranh này, cũng như tranh đàn gà mẹ con, nói lên sự con đàn cháu đống và sự quây quần của gia đình.

Tranh đánh ghen với lời chú thích Nhân lão tâm bất lão, người già lòng chẳng già. Tranh vẽ cảnh vợ cả đánh ghen cùng vợ lẽ có ông chồng già ở giữa. Đây chỉ là một cảnh sống của dân quê. Người đàn ông thường hay muốn vườn thêm hoa nên trong nhà mới sinh cảnh cả lẽ ỷ eo. Bức tranh có ý khuyên các bà vợ cả không nên ghen tuông, và các ông chồng cũng không nên đa mang vợ nợ con kia khiến cho cảnh gia đình lục đục. Nhưng nhân lão tâm bất lão, cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con, bức tranh dù muốn nêu điều gì, cũng không sao ngăn được người đàn ông năm thê bảy thiếp.

Tranh hứng dừa vẽ một người lên cây dừa hai quả ném xuống cho người ở dưới giơ váy lên hứng quả dừa. Người ở dưới mải mê hứng quả dừa, đã không nghĩ rằng khi tốc váy lên thì để hở cả cơ đồ ra, và quả dừa chỉ là lợi nhỏ, hở cơ đồ của mình ra là hại lớn.

Tranh đánh đu tả một cảnh hội Tết với cây đu, người thời lên đứng kẻ nhòm trông.

 Tranh nông phu ngồi gốc cây với chiếc cày bên cạnh và con trâu nằm trước mặt.

Tranh Tờ tiền vẽ những đồng tiền xếp liền nhau. Dán tranh này trong nhà, người ta tin làm ăn sẽ kiếm ra tiền.

Mấy bức tranh trên dán trên vách nhà nói lên phần nào những nét sinh hoạt của dân Việt Nam. Dưới đây là những bức tranh lịch sử và cổ tích các em thường mua về dán trong dịp Tết:

Tranh vua Đinh Tiên Hoàng cưỡi trâu cầm cờ lau, nhắc lại lúc nhà vua còn nhỏ, cùng lũ mục đồng cờ lau tập trận. Có điều hơi ngộ nghĩnh là vua Đinh cưỡi trâu cầm cờ lau nhưng lại mặc giáp trụ, tức là hình ảnh của nhà vua khi dẹp loạn Thập nhị sứ quân.

Tranh vua Đinh Tiên Hoàng cầm cờ lau, cởi trần, chống kiếm đứng trên lưng con rồng. Đây là sự tích Chú chém cháu, cháu nhảy xuống sông, con rồng nó đỡ, nhắc lại truyện vua Đinh Tiên Hoàng đi chăn trâu của chú, đã giết trâu để khao lũ mục đồng, bị ông chú đuổi chém chạy đến bờ sông, gặp lúc đường cùng, nhảy xuống sông thì có con rồng vàng đưa lưng lên đón đỡ.

Lại còn một bức tranh nữa cũng về tích này vẽ nhà vua đứng trên lưng rồng ở dưới sông, còn ông chú ở trên bờ chắp tay lạy.

Tranh bà Trung Trắc cưỡi ngựa cầm gươm, mình mặc giáp trụ, sau lưng có cắm bốn lá cờ.

Tranh Thạch Sanh bắn chim đại bàng, Thạch Sanh cứu công chúa dưới hang, Thạch Sanh giết mãng xà vương v.v...

Tranh Ngưu Lang Chức Nữ, vẽ Ngưu Lang ngồi dưới gốc cây, có con trâu nằm trước mặt ở một bên bờ sông Ngân, đàn quạ đang bắc cầu ô Thước, còn Chức Nữ ở bên kia bờ sông ngồi dệt vải, tay đang đưa thoi. Tranh này nhắc lại sự tích vợ chồng Ngâu.

Tục truyền tháng Bảy mưa Ngâu,

Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.

Một là duyên, hai là nợ,

Mối xích thằng ai gỡ cho ra?

Vụng về cũng thể cung nga,

Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.[1]

Tranh Chuột đỗ Trạng nguyên vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau. Và đám rước vinh quy này mang chim mang cá tới biếu chú mèo. Trên bức tranh có đề mấy hàng chữ:

Thử bối đệ ngự: chí, chí, chí, nghĩa là đàn chuột dâng cá kêu chí chí chí.

Miêu nhi thủ lễ: mưu mưu mưu, nghĩa là chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo.

Lại có hàng chữ nôm ở góc trái phía trên:

Tác lạc: nghĩa là làm vui.

Khôn khôn khôn đã có dễ

Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời.

Bức tranh này còn gọi là bức tranh Đám cưới chuột.

Tranh Thầy đồ cóc dạy học, trên bức tranh có bài cổ thi:

Xuân du phương thảo địa,

Hạ thưởng ngọc hồ trì,

Thu ẩm hoàng hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi.

            Tranh vẽ Thầy đồ cóc ngồi trên sập, có hai học trò cóc

đang kể bài hai bên phía trước. Dưới có ba con cóc đang viết, một con quạt siêu nước. Lại có một con cóc bị ba con cóc khác nọc ra đánh đòn. Chắc đây là chú cóc lười không thuộc bài.

Hai bức tranh Đám cưới Chuột và Thầy đồ cóc thường nhà nào cũng thấy có dán, và các trẻ em dường như thích những bức tranh này lắm.

Kể ra về loại tranh lịch sử và cổ tích còn nhiều: tranh Táo quân, tranh Quan Âm Thị Kính, tranh Lý Thường Kiệt v.v...

Và dưới đây là một số các bức tranh thuộc loại nêu lên những điều người Việt Nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau:

Tranh Trường sinh, vẽ một cụ già râu dài, tay cầm quạt lông, cởi trần hở rốn, trên vai gánh một cành cây có treo lủng lẳng hai bên hai quả đào, một bên mang chữ trường và một bên mang chữ sinh. Trường sinh nghĩa sống lâu. Trên bức tranh cũng có một bài thơ nôm đại ý nói về sự sống lâu.

Tranh Bình an cũng vẽ một cụ già tay cầm quạt lông, cũng râu dài, cởi trần hở rốn và cũng gánh một cành cây mang hai quả đào viết hai chữ Bình an. Bức tranh cũng có một bài thơ nôm đại ý nói về sự bình an.

Hai bức tranh Trường sinh Bình an dán đối nhau. Tranh Song hỉ vẽ hai đứa trẻ độ lên ba lên bốn tuổi, đầu còn trái đào, ăn mặc lễ phục, chân đi hài, một đứa cầm chiếc gậy đầu rồng, ở đầu có mặc chiếc đèn lồng, còn một đứa bưng chiếc khay trên đặt hai chữ Hỷ dính liền nhau. Đấy là song hỷ, chỉ hai điểm mừng là Phúc và Thọ.

Tranh Phúc Lộc Thọ, vẽ một cụ già cưỡi con hươu, có con dơi bay ở vai bên trái. Tay phải cụ già cầm một quả đào tiên.

Cụ già tượng trưng cho Thọ, con hươu tượng trưng cho Lộc, còn con dơi tượng trưng cho Phúc.

Kể ra, với ngày Tết, ở chợ quê, người ta còn bày bán nhiều loại tranh khác, và loại tranh nào cũng được các em ưa thích cả. Trên đây chỉ là một số các bức tranh nêu ra để các bạn đọc có một ý niệm về tranh ngày Tết của trẻ em đồng quê thời trước, cho tới năm 1944.

Dưới thời Pháp thuộc, các hàng tranh vẫn giữ nguyên nếp cũ với những tranh xưa, nhưng có vẽ bán thêm nhiều loại tranh mới về văn minh tiến bộ và về các danh nhân thế giới như Lê Nguyên Hồng...

Xin nhắc lại đây là những tranh mộc bản, in bằng mực đen, nhưng được các nhà sản xuất dùng phẩm tô màu sặc sỡ xanh, đỏ, tím, vàng...

Tranh được các bà hàng tranh bày bán vào dịp Tết, tranh bày la liệt trước mặt nhà hàng cứ hai bức tranh một, đối nhau.

Thỉnh thoảng mới có những bức tranh đơn độc như tranh Táo quân, tranh Thổ công tranh Tam da... Đặc biệt tranh Táo quân có hai loại cùng một hình, một loại in trên giấy vàng, chỉ in đen không tô màu, còn một loại in trên giấy trắng có tô màu ngũ sắc như các tranh khác. Cùng với các loại tranh trẻ em, các bà hàng tranh thường có bán thêm những bộ tranh của người lớn đã nói ở trên, với đủ sự tích, mỗi bộ bốn tờ với mười hai bức tranh.

Về loại tranh trẻ em, cũng có loại tranh Tàu vẽ những hình em bé nghịch trái đào, em bé ôm con vịt v.v... nhưng trẻ quê đâu có tiền mà chơi tranh Tàu, vừa đắt lại vừa không hợp với sở thích của các em.

Tục chơi tranh Tết ngày nay không còn ở vùng quê nữa, nhất là đối với các trẻ em, vì người lớn vẫn có thể mua những bức tranh Tàu về trang hoàng nhà cửa. Chỉ các em là thiệt thòi, nhất là ở các làng quê, chơi tranh quả là một cái thú của tuổi thơ khi Tết đến.

Câu đối

Tết đối với các làng quê phải có câu đối, nhất là trước đây hai chục năm. Cho đến ngày nay ở thành thị, vẫn còn nhiều người chơi câu đối Tết.

Chính vì những người chơi câu đối Tết, mà mỗi độ Xuân sắp về tại các chợ quê lại có các ông đồ bày hàng bán chữ, viết những đôi câu đối, có khi viết sẵn theo trong sách, có khi viết theo khách hàng đọc ra.

Câu đối viết trên giấy hồng điều, chữ mực tàu đen nhánh hoặc chữ kim nhũ vàng óng ánh. Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đỏ có dát vàng lốm đốm.

Ngày Tết, thiếu câu đối chưa là đủ Tết. Trong nhà dù trang hoàng thế nào, thiếu những đôi câu đối đỏ, Tết vẫn phảng phất thiếu một cái gì.

Chơi câu đối, người ta chọn từng đôi cho hợp với cảnh, bởi vậy, nhiều người tự nghĩ lấy câu đối, viết lấy hoặc thuê các ông đồ viết giúp.

Câu đối cũng như tranh Tết, người ta dán từ ngoài cổng vào đến trong nhà.

Ngoài cổng ngõ, câu đối được dán hai bên trụ cổng.

Môn đa khách đáo thiên tài đáo

Gia hữu nhân lai vạn vật lai.

Lược dịch:

Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến.

Nhà có người vào lắm vật nào.

Đôi câu đối trên thường được dân ở nơi cổng ngõ và nói lên lòng hiếu khách của người dân quê Việt Nam. Người ta mong có khách để được tiếp đãi, không phải là khách sẽ mang tài lợi hại, nhưng khách tới trong nhà sẽ có vẻ tấp nập và sự vui mừng, đó là biểu hiện của sự thịnh vượng.

Bước qua khỏi cổng, vào tới trong sân, đến trước hiên nhà, nơi đây có hòn non bộ, có vườn hoa cây cảnh, hoặc không có gì nữa thì ở ngay hai bên cột hai hàng hiên cũng có dán một đôi câu đối:

Sơn thủy thanh cao xuân bất tận,

Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh.

Lược dịch:

Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi,

Thần tiên vui thú cảnh đời đời.

Đôi câu đối nói lên vẻ thanh nhàn của chủ nhân, nhưng thực ra có khi chủ nhân vẫn quanh năm đầu tắt mặt tối. Chủ nhân chơi đôi câu đối này chỉ vì sự cảm thông với đất trời khi xuân trở lại, vì xuân năm nay đi, sang năm lại còn xuân khác, và xuân còn đến, tại sao chủ nhân không hưởng cái lạc thú trường sinh của đất trời.

Rồi vào đến trong nhà, dịp Tết, nhà nào ít nhất cũng có đôi ba đôi câu đối, hoặc viết trên giấy đỏ, hoặc viết trên những đôi liễn bồi có vẽ hoa cỏ hoặc chim phụng chim loan.

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ,

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.

Lược dịch:

Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ,

Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà.

Ý nghĩa đôi câu đối trên thật giản dị và hợp với tâm hồn chất phác của dân quê.

Và đôi câu đối sau đây, ta thường thấy ở nhiều gia đình.

Tổ tôn công đức thiên niên thịnh,

Tử hiến tôn hiền vạn đại xương.

Lược dịch:

Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh,

Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay.

Vì xuân đến cùng với Tết, nên nhiều đôi câu đối nhắc đến xuân:

Xuân như cẩm tú, nhân như ngọc,

Khách mãn gia đình, tửu mãn tôn.

Lược dịch:

Xuân như cẩm tú, người như ngọc,

Khách chật trong nhà, rượu kết chung.

Có khi nhắc đến xuân lại là một câu đối nôm:  

Ngoài cửa mừng xuân nghênh Ngũ Phúc,

Trong nhà chúc Tết hướng Tam Đa.

Cũng có đôi câu đối, tuy nhắc đến xuân, nhưng vẫn nói tới phúc lộc và lễ nghĩa là những điều cẩn trọng trong nền luân lý Á Đông, mà dân tộc Việt Nam luôn luôn gìn giữ.

Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh,

Lộc tiến vinh hoa phú quý xuân.

Lược dịch:

Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh,

Lộc nảy vinh hoa phú quý xuân.

Xuân đến người dân quê cầu một mùa xuân như ý, cũng như hàng ngày người ta mong mỏi sự bình an. Một đôi câu đối có thể nói lên sự cầu mong này:

Niên niên như ý xuân,

Tuế tuế bình an nhật

Lược dịch:

Năm năm xuân như ý,

Tuổi tuổi ngày bình an.

Lại cũng có đôi câu đối có giọng tâng bốc chủ nhà và khen chủ nhà chỉ có những khách tài ba tới mừng xuân:

Nhập môn tân thị kinh luân khách,

Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân:

Lược dịch:

Vào cửa toàn khách kinh luân

Ngồi chơi toàn người cẩm tú.

Chơi xuân, tiếp khách nhưng người dân quê bao giờ cũng nhớ đến tiên tổ, lo điều nhân đức, cũng như nghĩ đến cháu con, làm điều tốt đẹp. Các cụ xưa sợ con cháu quên những điểm này, nên có để lại đôi câu đối sau đây ta thường bắt gặp tại những gia đình đạo đức miền quê:

Niệm tiên tổ, quật tu quyết đức,

Khải hậu nhân, trường phát kỳ tường.

Lược dịch:

Nhớ tiên tổ, đem điều nhân đức,

Tin cháu con, bền sự lạ hay.

Cùng với ý nghĩa trên liên quan tới việc lo điều nhân đức, nhiều nhà treo những đôi câu đối sau:

Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đức,

Bố y tùy phận cầu phúc đức lai tài.

Lược dịch:

Nhà có ở yên, tích kim quang, được đức,

Áo vải an thân, cầu phúc đức, đến tài.

Với đôi câu đối trên ta thấy dân ta luôn luôn chú trọng tới phúc đức, ở nhà cỏ, mặc áo vải, muốn có tài phải cần có phúc đức.

Thiên địa vô tư, tích thiện tư nhân thiện,

Thánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh.

Lược dịch:

Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện

Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh.

Cầu phúc đức phải lo làm điều thiện, và làm điều thiện lại gặp điều thiện, cũng như muốn được vinh hiển thì phải tu thân. Người dân quê Việt Nam, trong khuôn khổ đạo đức luôn luôn lo tu thân tích thiện.

Treo đôi câu đối trên trong nhà, cha mẹ muốn răn dạy con làm điều lành và cần phải sửa mình luôn luôn.

Và những người biết tích thiện tu thân tự nhiên sẽ gặp những điều tốt đẹp. Với năm mới sẽ được hưởng sự bình an hạnh phúc và với ngày xuân, điều vinh hoa phú quý sẽ lại. Những điều may mắn trên, bình an và phú quý ai không mong mỏi, và cầu chúc cho nhau. Bởi vậy, tại nhiều nhà thường treo đôi câu đối:

Tân niên hạnh phúc bình an tiến,

Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.

Lược dịch:

Năm mới, hạnh phúc bình an đến,

Ngày xuân, vinh hoa phú quý về.

Người dân quê cho rằng nếu họ được hạnh phúc bình an và vinh hoa phú quý đó là do Trời Đất thương mà ban cho. Người ta không quên Trời Đất, và dưới đây là một câu đối nhắc đến sự rộng lượng của Đất, Trời:

Địa sinh tài, thế nghiệp quang huy,

Thiên tứ phúc, gia thanh hiện tái.

Lược dịch:

Đất sinh tài: nghiệp đời xán lạn,

Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi.

Khi đã được Đất, Trời ban tài cho phúc, sự phú quý vinh hoa sẽ gia tăng với phúc đức:

Phúc mãn đường, nên tăng phú quý,

Đức lưu quang, nhật tiến vinh hoa.

Lược dịch:

Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có.

Đức ngập tràn, ngày một vinh hoa.

Ngoài những đôi câu nhắc nhở đến đạo đức như trên, có những đôi câu đối đề cập tới những cảnh nước nhà với những cây mai cây trúc báo điềm tài lợi lộc quyền là điều người ta hằng mong đợi:

Trúc báo bình an, tài lợi tiến,

Mai khai phú quý, lộc quyền lai.

Lược dịch:

Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi,

Mai khai phú quý, lại lộc quyền.

Trúc với lai là hai cây cảnh thường được trồng trước cửa nhà. Với xuân sang lá trúc xanh tươi, hoa mai trắng toát điểm trang cho vườn cảnh trước nhà, và với lá trúc xanh, hoa mai nở, người dân quê tin rằng năm mới sẽ thêm tài lợi và lộc quyền.

Đại để những đôi câu đối xuân thường luôn luôn mang ý nghĩa tốt đẹp, và đôi khi nhắc nhở con người ta đến điều đạo đức. Trên đây chỉ là một số những đôi câu đối được đan cử ra trong hàng trăm nghìn câu đối cổ khác.

Ngoài ra, đôi khi vào một gia đình tổ tiên trước đây đã có một sự nghiệp, ta có thể được đọc một đôi câu đối trong đó con cháu đã khéo léo ghi lại sự nghiệp của ông cha và ý muốn noi theo nghiệp nhà:

Tiên tổ phương danh lưu quốc sử,

Tứ tôn tích học hiển gia phong.

Lược dịch:

Tiên tổ danh thơm ghi sử nước,

Cháu con tích học nổi cơ nhà.

Câu đối thường treo ở hai bên bàn thờ gia tiên, nhưng nếu trong nhà có thờ các vị Thần, Phật, mỗi bàn thờ đều có câu đối riêng. Dưới đây là một đôi câu đối treo ở bàn thờ Phật:

Liên tọa đài tiền hoa hữu thực,

Bồ đề thụ thượng quả thanh nhàn.

Lược dịch:

Tòa sen đài trước hoa đầy đủ,

Cố thụ bồ đề quả thanh nhàn.

Câu đối đỏ tăng vẻ tưng bừng cho ngày Tết và đem màu xán lạn lại trong nhà trước cảnh xuân. Người dân quê đón Tết với hương hoa, bánh trái, nhưng không bao giờ họ quên câu đối đỏ.



[1].  Tản Đà.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Làng xóm Việt Nam   Tết làng
Mấy tục lệ của ngày 30 tết
Tục lệ ngày Nguyên Đán
Tranh tết
Pháo
Cỗ đơm
Viếng mộ đầu xuân
Động thổ
Lễ khai hạ
Cờ Bạc
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google