Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Ứng dụng của laser - một thành...
Những người được giải thưởng...
Những giây phút đầu tiên
Một số dạng vượn - người và...
Lược sử các phát minh
Lược sử tiến hóa loài người
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Những hậu quả của nền văn minh...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Tử vi và Phong thuỷ   Tử vi - Chiêm tinh   Văn hoá về 12 Con Giáp   Ngựa (Ngọ)


3

“Ngựa” trong cuộc sống của người Trung Quốc

Ngựa có ảnh hưởng sâu sắc tộc đến văn hoá phong tục của người Trung Quốc.

Trong phong tục tiết thời của dân tộc Hán có ngày của ngựa, đó là vào mùng 6 tháng giêng âm lịch, người ta xem thời tiết hôm đó mưa nắng thế nào để dự đoán sự suy thịnh của ngành nuôi ngựa năm đó, nếu trời nắng tốt thì nuôi ngựa phát triển, còn nếu trời âm u thì sẽ gặp chuyện không hay. Vào ngày hôm đó, người ta phải cho ngựa ăn kỹ, không được la mắng đánh đập hay giết nó để cầu mong ngành nuôi ngựa phát đạt. Phong tục này chủ yếu được lưu truyền ở vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, Hà Bắc và Chiết Giang.

Vùng Hoa Hạ từ xưa đã có tục tế ngựa được thịnh hành trong cả nước. Theo sách sử, đời Chu đã thịnh hành tục cúng tế Mã Tổ. Theo “Chu Lễ” có ghi: Xuân tế Mã Tổ, hạ tế Tiên Mục, thu tế Mã Xã, đông tế Mã Bộ. Mã Tổ là vị thần tổ của loài ngựa, có liên quan đến việc sùng bái sự sinh sản của ngựa và liên quan đến tinh tú trên trời của ngựa, còn gọi là Thiên tứ. Tiên Mục là vị thần linh dạy cho con người cách nuôi ngựa đầu tiên nhất. Mã Xã là vị thần linh dạy con người cưỡi ngựa đầu tiên nhất, được thờ cúng chung với thần thổ địa trong chuồng ngựa. Mã Bộ là vị thần linh của tai nạn ngựa, cúng tế vị thần này để cầu mong cho ngựa tránh khỏi tai nạn dịch bệnh.

Dân tộc Hán tin vào Mã vương gia, là vị thần Tư Mã, theo truyền thuyết là vị đại thần Kim Nhật Đê thời tây Hán. Kim Nhật Đê tự Ông Thúc, là thái tứ vua Hưu Đồ của Hung Nô, vào thời Hán Vũ Đế đã theo vua Côn Tà qui thuận triều Hán và được phong chức Mã Giám.  Trong dân gian lưu truyền vị thần này có 3 mắt 4 tay, diện mạo xấu xí ghê rợn, nông dân cúng tế ông vào ngày 23 tháng 6 âm lịch, vật tế là một con dê. Trong Quảng Cừ Môn ở Bắc Kinh có miếu Mã thần thờ tượng vị thần này.

Theo truyền thuyết của dân tộc Mông Cổ, lễ sữa ngựa và đua ngựa được tổ chức vào một ngày cuối tháng tám âm lịch hàng năm. Sáng sớm hôm đó, dân chăn ngựa mặc đồ lễ hội mang theo rượu và sữa ngựa đến nơi chỉ định giết dê mổ bò, chuẩn bị thức ăn làm từ sữa, châm bếp đốt bằng phân bò, nấu nướng rượu thịt. Khi mặt trời lên bắt đầu đua ngựa, ngựa đua toàn là ngựa con 2 tuổi tượng trưng cho sự phồn thịnh sung sức. Đua ngựa xong, mọi người cùng nhau ăn uống thoải mái trong tiếng nhạc của cây đàn đầu ngựa, họ hát những bài ca tụng ngày lễ, cuộc vui kéo dài đến tận đêm khuya mọi người mới lần lượt ra về.

Phong tục cưới hỏi của người Hán ở vùng Thanh Hải có nghi thức uống “Hồi mã tửu”. Trong ngày hôn lễ, khách đàn gái rời khỏi nhà trai đi được một quãng, một số thanh niên trai tráng thắng dây cương quay lại nhà trai, đến cửa nhà trai, người nhà đàn trai dâng rượu mời khách, khách ngồi trên lưng ngựa uống rượu rồi quất ngựa đi, được một quãng lại quay ngựa lại, cũng ngồi trên lưng ngựa uống rượu rồi đi, cứ thế lặp lại vài lần, tiếng vó ngựa hòa cùng tiếng cười nói làm cho không khí ngày cưới thêm nhộn nhịp.

Vùng Trừng Thành tỉnh Thiểm Tây có tục tặng ngựa vàng vào ngày cưới. Sau khi hai họ đồng ý cuộc hôn nhân, đàn trai phải tặng cho đàn gái một con ngựa vàng hay ngựa bạc, nếu không đủ khả năng có thể tặng một con ngựa làm bằng vải vàng với ý nghĩa cát tường như ý, mã đáo thành công.

Người Mông Cổ có tục cưỡi ngựa cướp cô dâu. Trong quyển “Phong tục Trung Hoa” của Hồ Phác An có viết: “Theo phong tục người Mông Cổ, vào ngày cưới, chú rể đến nhà đàn gái, bắt cô dâu đặt lên ngựa đưa về, gọi là cướp cô dâu. Đàn gái chuẩn bị nhiều người giả vờ đuổi theo để giành lại, có bài thơ rằng: “Chú rể quất ngựa dương roi trước, em vợ cố sức đuổi theo sau, cướp được mỹ nhân về đến nhà, yến tiệc tưng bừng khúc giao bôi.”

Tục đốt vàng mã cho người chết rất phổ biến trong dân gian Trung Quốc. Vàng mã tượng trưng cho vàng thật ngựa thật. Người ta cho rằng trong cõi âm cũng như trên cõi dương, lúc sống cần đồ vật gì thì khi chết cũng thế, người chết cần ngựa để làm phương tiện đi lại, nên khi cúng người chết phải đốt ngựa giấy.

Văn hóa ngựa cũng ảnh hưởng đến những hoạt động văn hóa nghệ thuận trong dân gian. Cưỡi ngựa bắn tên đi săn và những hoạt động văn hóa nghệ thuật của giai cấp quí tộc từ thời xa xưa. Bắn tên đua ngựa là những hoạt động vui chơi giải trí tranh tài quan trọng của người dân du mục miền bắc. Vì vật săn khác nhau nên bắn tên cũng có cách gọi khác nhau, như bộ tộc người Khiết Đan và Nữ Chân gọi trò chơi bắn tên là bắn liễu; dân tộc Mãn gọi là bắn lụa, bắn lửa hương (ban đêm treo ngọn lửa hương trên cao mà bắn), người Mông Cổ gọi là bắn người cỏ, chó cỏ, họ gọi chung đua ngựa, bắn tên, đô vật là “Nam tử hán tam nghệ” thường được tổ chức vào những dịp lễ cúng nơi ở của thần linh và ngày hội Na-ta-mu. Dân tộc Tạng thường tổ chức đua ngựa, thi cưỡi ngựa bắn tên vào dịp tết và tháng 7.

Trong dân gian cũng có nhiều tiết mục biểu diễn trên ngựa, tục gọi là mã hí (xiếc ngựa). Mã hí có từ đời Hán, đến đời Tống đạt đến cực thịnh. Ngày nay mã hí thuộc loại hình tạp kỹ, còn mã thuật thuộc loại hình thể thao. Mã thuật là những vận động của con người cưỡi trên lưng ngựa, thường thấy nhất là đua ngựa. Một số nơi còn kết hợp giữa đua ngựa và cá độ.

Từ khi du nhập trang phục cưỡi ngựa của người Hồ, trang phục của trung Nguyên cũng bị ảnh hưởng mà có sự thay đổi. Từ trang phục truyền thống “thượng y hạ xiêm” (trên áo dưới váy) của người Hán thay đổi thành “thượng y hạ khố” (trên áo dưới quần). Ngoài ra còn xuất hiện những tên gọi trang phục mới như mã giáp (áo lót, áo may-ô), mã quái (áo ngắn khoác ngoài của nam giới), mũ đuôi ngựa, ủng đi ngựa, tay áo móng ngựa ...

Nền văn hóa nghệ thuật của các triều đại cũng rất xem trọng con ngựa. Từ hàng ngàn năm nay con người đã thể hiện tình cảm yêu mến của mình đối với ngựa thông qua các loại hình nghệ thuật như văn học, điêu khắc, hội họa, âm nhạc... ở đây chủ yếu chỉ nói về hình tượng con ngựa trong văn học.

Trong tập thơ cổ nhất của Trung Quốc “Kinh thi” đã miêu tả chi tiết về màu lông, thần sắc, trang sức của ngựa để thể hiện lòng yêu ngựa của người xưa. Thời Tiên Tần cũng xuất hiện nhiều bài tản văn lấy ngựa ví người ví việc, ngựa tốt được ví như nhân tài, còn người biết xem tướng ngựa như Bá Lạc được ví như vị vua anh minh biết trọng dụng nhân tài. Trong “Chiến quốc sách - Sở sách tứ” có kể một câu chuyện: “Một con ngựa tốt được dùng để kéo xe muối, cực nhọc vô cùng. Vừa lúc Bá Lạc đi ngang trông thấy liền xuống xe đến vuốt ve con ngựa mà khóc và cởi chiếc áo của mình khoác lên mình ngựa, con ngựa liền cúi xuống hắt hơi, rồi ngẩng đầu hí vang tận trời cao, tiếng hí trong như tiếng vàng va vào đá.” Con ngựa ở đây vì “cảm ân tri ngộ” nên cảm khái mà hí vang như hiền thần gặp được minh chúa. Sau này, câu chuyện ngựa thiên lý và Bá Lạc được diễn dịch thành những giai thoại của văn nhân các đời mong muốn được quân vương trọng dụng để thực hiện hoài bão chính trị của mình.

Trong tác phẩm của Khuất Nguyên thường lấy kỳ lân để bày tỏ ý chí của mình như trong “Ly tao”, ông viết: “Thừa kỳ lân dĩ trì sính hề, lai ngô đạo phu tiên lộ” để bày tỏ lý tưởng cao quí và tinh thần chiến đấu kiên cường của mình. “Hoài Sa” viết: “Bá Lạc kí một, kí yên trình hề?” bộc lộ lòng u uất vì có tài mà không gặp thời của nhà thơ.

Trong “Trang Tử - Tri bắc du”: “Con người sống giữa trời đất như bạch câu qua khe, thoáng cái đã qua.” Ở đây lấy bạch câu qua khe để ví đời người ngắn ngủi. Trang Tử trong “Trang Tử - Mã Đề” còn tôn sùng bản tính tự nhiên của con người “Lúc vui thì ôm cổ bá vai, khi giận thì ngoảnh mặt làm ngơ”. Tuân Tử trong “Tuân Tử - Khuyến học” từng lấy nô mã (con ngựa tồi) để khuyến học: “Kỳ lân nhất dược, bất năng thập bộ; nô mã thập giá, công tại bất xá.”

Vua Hán Vũ Đế rất yêu ngựa tốt, để được ngựa nổi tiếng ở Đại Uyển, ông cho quân tây chinh, khi được ngựa tốt ông làm bài “Thiên mã ca” để bộc lộ sự đắc ý của mình. Trong nhiều bài Hán phú có ghi chép về xe ngựa, săn bắn như bài “Tử hư phú”, “Thượng lâm phú” của Tư Mã Tương Như. Ngựa trong thơ ca thường có liên quan đến chiến tranh, khi thì nói lên nỗi thống khổ của chiến tranh như bài “Chiến thành nam” trong nhạc phủ đời Hán có câu “Hiêu kỵ chiến đấu tử, nô mã bồi hồ minh” thể hiện sự bất hạnh và đau khổ do chiến tranh mang lại. Khi thì lột tả xã hội hiện thực loạn lạc và hoài bão của cá nhân như bài “Khước đông tây môn hành” của Tào Tháo: “Nhung mã bất giải yên, khải giáp bất ly bàng, nhiễm nhiễm lão tướng chí, hà thời phản cố hương” đã nói lên sự gian lao trong hành quân và nỗi niềm nhớ quê nhà của người chinh phu. Trong bài “Qui tuy thọ”: “Lão kí phục lịch, chí tại thiên lí, liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ” nói lên tâm hồn tráng sĩ, tuổi tuy già nhưng chí chưa già. Bài “Bạch mã thiên” của Tào Trực: “Bạch mã sức kim ki, liên phiên tây bắc trì, tá vấn thùy gia tử, ưu tính du hiệp nhi...” nói lên ước vọng lập công, tinh thần khẳng khái, sẵn sàng hy sinh thân mình của nhà thơ. Hình ảnh con ngựa trong thơ ca đời Đường phần lớn đều hào khí ngút trời, khí thế hiên ngang, thể hiện thời cực thịnh của đời Đường. Lý Bạch, Đỗ Phủ đã từng có bài ca ngợi ngựa. Một số nhà thơ cũng đã lấy ngựa làm đề tài sáng tác. Lư Chiếu Lân có bài “Tử lưu mã”: “Lưu mã chiếu kim yên, chuyển chiến nhập cao lan. Tắc môn phong sảo cấp, Trường Thành thủy chính hàn. Tuyết ám minh kha trùng, sơn trường phún ngọc nan. Bất từ hoành tuyệt mạc, lưu huyết kỉ thời can.” Bài thơ với khí thế hào hùng, miêu tả con chiến mã dũng mãnh và người tướng sĩ ngoan cường. Bài “Tử lưu mã” của Lý Bạch: “Tử lưu hành thả tư, song phiên bích ngọc đề. Lâm lưu bất khẳng độ, tự tích cẩm chướng nê. Bạch tuyết quan sơn viễn, hoàng vân hải đại mê. Huy tiên vạn lý khứ, an đắc luyến xuân qui.” Con ngựa dưới ngòi bút của Lý Bạch phóng khoáng tuấn tú, chí cao nghĩa cả, hiểu được ý người, khiến người ta yêu thích. Bài “Phòng binh Tào Hồ mã” của Đỗ Phủ viết: “Hồ mã Đại Uyển danh, phong lăng sấu cốt thành. Trúc phê song nhĩ tuấn, phong nhập tứ đề khinh. Sở hướng vô không khoát, chân kham thác tử sinh. Kiêu đằng hữu như thử, vạn lí khảo hoành hành” nói lên sự ngưỡng mộ con tuấn mã tự do chạy nhảy không bị ràng buộc. Ông Lý Hạ đã làm 23 bài thơ về ngựa, đây chỉ nêu 2 bài: “Thử mã phi phàm mã, phong tinh bản thị tinh. Hướng tiền xao sấu cốt, do tự đái đồng thanh” thể hiện tinh thần kiên cường của con ngựa. “Đại mạc sa như tuyết, yến sơn nguyệt như câu. Hà đáng kim lạc não, khoái tẩu đạp thanh thu” nói lên khí khái hào phóng và chí hướng rộng lớn của nhà thơ.

Hình ảnh con ngựa trong văn học các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều có dáng thanh tú mạnh mẽ “Giang thành tử - Mật châu xuất liệp” của Tô Thức đã lấy việc cưỡi ngựa đi săn “Tả khiên hoàng, hữu kình thương” để bộc lộ ý chí của mình “Lão phu liêu phát thiếu niên cuồng”, “Hội vãn điêu cung như mãn nguyệt, tây bắc vọng, xạ thiên lang.” Lục Du có bài “Phong vũ ngày 14 tháng 11”: “Dạ lan ngọa thính phong thôi vũ, thiếc mã băng hà nhập mộng lai.” Tân Khí Tật có bài “Vĩnh ngộ lạc - Kinh khẩu bắc cố đình hoài cổ”': “Nhớ năm ấy, giáo và ngựa sắt, khí thế như hổ lan khắp vạn dặm”, con ngựa sắt dưới ngòi bút của hai ông đều là tượng trưng cho ý chí chống giặc đền ơn vua nợ nước của họ. Bài “Qua Bình Dư nhớ Lý Tử lúc sinh thời ở Tính Châu” của Hoàng Đình Kiên đã nói lên nỗi căm phẫn bất bình đối với nhân tài bị chèn ép mai một “Trên đời há chẳng có ngựa thiên lý, nhân gian có mô đất cửu phương!” Những lời oán than này có rất nhiều vào thời Nguyên, Minh, Thạnh, trong đó vang  dội nhất là tiếng than của Cung Tự Trân người đời cuối Thanh phát ra từ bài “Kỷ hợi tạp thi”: “Cửu châu sinh khí thị phong lôi, vạn mã tề ám cứu khả ai! Ngã khuyến thiên công trọng đẩu  tẩu, bất câu nhất cách gián nhân tài.”

Ngoài ra, hình ảnh con ngựa trong dân tộc du mục cũng rất phong phú như trong “Cách Tát Nhĩ vương truyện” của dân tộc Tạng, “Giang Cách Nhĩ” của dân tộc Mông Cổ, “Mã nạp tư” của dân tộc Khơ-rơ-khơ-chư đều khắc họa rất thành công hình ảnh con tuấn mã tung vó giữa thảo nguyên bát ngát.

Ngựa cũng có ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ con người, nó có ý nghĩa rất phong phú trong thói quen ngôn ngữ như “Án đồ sách kí” (theo tranh vẽ đi tìm ngựa) nguyên chỉ làm việc máy móc câu nệ, nay chỉ lần theo đầu mối đi tìm vật gì đó. “Phong mã ngưu bất tương cập” (không liên quan gì với nhau) nguyên chỉ ngựa và bò có rượt đuổi nhau cũng không đụng nhau, nay được ví hai vật không liên quan gì với nhau. “Phi lư phi mã” (không phải lừa cũng chẳng phải ngựa) ví với vật hoặc người chẳng giống cái gì, không ra cái gì. “Hại quần chi mã” (con ngựa làm hại cả đàn) ví chỉ kẻ làm hại cả tập thể. “Kim qua thiếc mã” ví chiến tranh. “Lệ binh mạt mã” chỉ cho ngựa ăn, mài sắc binh đao trong tư thế sẵn sàng ra trận. “Thiên binh vạn mã” chỉ khí thế hào hùng. “Nhung mã không tổng” chỉ việc quân bận rộn. “Mã đáo thành công” chỉ nhanh chóng gặt hái thành công. “Da ngựa bộc thây” chỉ khí tiết anh hùng xem thường cái chết sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc. “Người ngã ngựa đổ” ví cảnh thảm bại khốn đốn. “Người mệt ngựa kiệt” ví cảnh người ngựa đều mệt lã kiệt sức. “Mã thủ thị thiêm” (đầu làm gì đuôi theo nấy) ví việc phục tùng người nào đó. “Mã nhĩ đông phong” chỉ việc không chú ý nghe người khác nói. “Ngựa không dừng chân” ví với không ngừng một giây, luôn luôn tiến lên. “Ngựa tuột cương” ví với không bị ràng buột. “Thanh mai trúc mã” ví nam nữ lúc còn nhỏ vui chơi với nhau một cách ngây thơ vô tư. “Cưỡi ngựa xem hoa” ví xem qua loa vội vã. “Tái ông thất mã” ví điều xấu trong điều kiện nhất định có thể biến thành điều tốt. “Trỏ nai bảo ngựa” ví với sự đảo lộn phải trái. “Hạ mã uy” ví việc ra oai phủ đầu. “Hồi mã thương” ví quay đầu lại đánh trả quyết liệt với kẻ truy đuổi. “Mã hậu pháo” ví với hành động không kịp thời. “Môi lừa không khớp miệng ngựa” (râu ông này cắm cằm bà kia) ví việc không khớp nhau. “Ngựa chết chữa như ngựa sống” ví với việc cố hết sức để chữa trị. “Đường xa biết sức ngựa, lâu ngày thấy lòng người” ý chỉ qua thời gian lâu sẽ biết được người tốt hay xấu.

Tục ngữ về ngựa cũng có nhiều như “Ngựa không ăn cỏ đêm không khỏe”, “Ngựa tốt không quay lại lối cũ ăn cỏ” (người có chí khí không quay lại chỗ đã hất hủi mình dù điều kiện có tốt đi nữa), “Vỗ mông ngựa vỗ nhằm chân ngựa” (kẻ nịnh hót không đúng chỗ), “Người đẹp nhờ lụa, ngựa nhờ yên”, “Đuôi ngựa treo đậu hủ, không kham nổi”, “Khoái mã nhất tiên, khoái nhân nhất ngôn”, “Binh mã chưa tiến, lương thảo tiến trước”, “Người có lúc lỡ tay, ngựa có khi rơi móng”, “Xạ nhân tiên xạ mã, cầm tặc tiên cầm vương” (bắn người trước hết phải bắn ngựa, đánh giặc trước hết phải bắt kẻ cầm đầu), “Là con la hay con ngựa, dắt ra đi rong một lúc sẽ rõ”, “Cưỡi ngựa không cần cương, chỉ việc vỗ mông ngựa”. “Đuôi ngựa dùng làm dây đàn, không đáng để nói”.

 

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Tử vi và Phong thuỷ   Tử vi - Chiêm tinh   Văn hoá về 12 Con Giáp   Ngựa (Ngọ)
Con ngựa hiên ngang phóng khoáng
Thiên mã rong ruổi giữa trời xanh
“Ngựa” trong cuộc sống của người Trung Quốc
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Tử vi - Chiêm tinh
Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google