Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Các giải nobel về sinh lý học...
Pulsar, một đồng hồ thiên...
Sự hình thành các lục địa và...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Một số dạng vượn - người và...
Ứng dụng của laser - một thành...
Sự tìm kiến những hành tinh...
Sự va chạm giữa những thiên thể
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Truyền thống Thẩm mỹ


PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC NGOÀI

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC NGOÀI

BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VIỆC GIAO LƯU VỚI VĂN HOÁ THẾ GIỚI

Trong mấy ngàn năm lịch sử lao động dựng nước và chiến đấu giữ nước, trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá lớn trong khu vực, dân tộc Việt Nam đã giữ vững và xây dựng được nền văn hoá mang bản sắc dân tộc. Có thể nói bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam có sức sống diệu kỳ, đang hiện diện giữa cuộc sống hôm nay trên mọi phương diện của đời sống vật chất và tinh thần là sự tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá lớn trên thế giới đã tạo nên.

Ngay từ thế kỷ thứ 2 trước CN, văn hoá bản địa Việt Nam đã tiếp xúc với nền văn hoá lớn của ấn Độ, văn hoá Phật giáo. Khi đất nước bị bọn phong kiến Trung Quốc đô hộ, văn hoá bản địa Việt Nam lại được tlếp xúc với văn hoá Trung quốc, nền văn hoá Nho giáo. Trong hoàn cảnh cả dân tộc đang rên xiết dưới ách thống trị dã man của phong kiến phương Bắc thì tinh thần ''khuyến thiện trừng ác'' của Phật giáo đã được tiếp thụ, kết hợp với tinh thần yêu nước, đã sớm trở thành ngọn cờ tập hợp đông đảo dân chúng đấu tranh giành độc lập. Nhân vật Lý Phật Tử (tín đồ đạo Phật họ Lý), đã tập hợp những phật tử có lòng yêu nước để đánh đuổi quân xâm lược, lập ra nhà nước Vạn Xuân, lên ngôi xưng là Lý Nam Đế. Suốt trong hơn mười thế kỷ, văn hoá Phật giáo đã được người Việt tiếp thụ tinh thần nhân đạo, nhập thế để trở thành bản sắc dân tộc Việt Nam và trở thành chủ nghĩa yêu nước tích cực đấu tranh chống ách thống trị của Trung Quốc, giành lại nền tự chủ và độc lập; khi đã giành lại được đất nước thì góp phần vào việc củng cố nhà nước độc lập với các triều đại Đinh, Lê, Lý,Trần. Tiếp thu tinh thần “vị tha, từ bi, bác ái” của văn hoá Phật giáo Ấn Độ, người Việt Nam luôn nhớ đến ân nghĩa; ơn cha, ơn mẹ, ơn thầy, ơn quê hương đất nước, ơn chúng sinh nên đã có một cuộc sống nội tâm phong phú nhân văn, ''thương người như thể thương thân'', những khi ''tắt lửa tối đèn'' hoạn nạn đều có nhau, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”...Ân nghĩa đã trở thành đạo đức cao đẹp của mọi người, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong cộng đồng dân tộc, là sợi dây nối quá khứ với hiện tại để xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, đó chính là bản sắc vă hóa dân tộc khi giao lưu với văn hoá Phật giáo từ ấn Độ truyền sang.

Đồng thời với tiếp xúc giao lưu với văn hóa Phật giáo  Ấn Độ, dân tộc Việt Namcũng tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Trung Quốc nhưng không phải với tinh thần tự nguyện  và bình đẳng. Các quan Thái thú sang cai trị cùng các nho sĩ đã đem văn hóa Hán sang áp đặt lên đất nước ta trong gần ngàn năm với hy vọng đồng hóa bản địa Việt Nam là rất quyết liệt. Phật giáo là chỗ dựa tinh thần để chống lại chế độ cai trị. Chữ Hán ban đầu được dùng trong công văn giấy tờ, phong tục Hán không xâm nhập được vào đời sống, tổ chức bộ máy cai trị của phong kiến Trung Hoa không ảnh hưởng tới các mường (làng). Cuộc Hán hóa đã thất bại vì những cuộc khởi nghĩa của dân tộc Việt Nam liên tiếp xảy ra và đến năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán lập nên nhà nước Việt Nam độc lập.

 Trong giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập, để xây dựng một quốc gia có đủ sức mạnh chống ngoại xâm, văn hoá Việt Nam đã tiếp thu văn hoá Hán một cách khôn ngoan, có chọn lọc, đã tìm thấy ở đó những yếu tố cần thiết, đó là Chữ Hán và những thiết chế cần thiết để xây dựng chế độ quân chủ vững mạnh. Kết quả của việc tiếp xúc ấy là sự tồn tại một quốc gia độc lập với một nền văn hiến riêng biệt, hào kiệt đời nào cũng có... Tiếng nói bản địa của người Việt Nam trải qua ngàn năm bị đô hộ không hề mất đi, vẫn được sử dụng, lại càng thêm phong phú với vốn từ Hán Việt Văn học viết bằng chữ Hán đã khẳng định nền độc lập của đất nước, ca ngợi non sông, đề cao trách nhiệm của mỗi người dân trước sự tồn vong hưng thịnh của đất nước. Bên cạnh chữ Hán lại có chữ Nôm, bên cạnh văn học viết lại có văn học dân gian vô cùng phong phú. Phong tục tập quán dân tộc tiếp thu thêm sự tinh tế, mở rộng phát triển, địa vị của phụ nữ trong gia đình vẫn được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Có thể nói trong lần giao lưu tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa dân tộc ta vẫn giữ vững được tính độc lập, bản sắc và đã làm giàu thêm văn hoá Việt Nam lên một bước, không bị Hán hoá, đồng hoá.

Qua hai lần tiếp xúc lâu dài với văn hoá nước ngoài, chúng ta đều nhận thấy là có giữ vững được bản sắc dân tộc mới không bị đồng hoá và mới tiếp thu được đúng đắn tinh hoa của văn hoá nước ngoài, Việt hoá nó, biến nó thành bản sắc văn hoá của dân tộc, làm cho văn hoá nước nhà thêm phong phú.

Vào mấy thế kỷ trước, dù giai cấp phong kiến thống trị có ''bế quan toả cảng'', tìm mọi cách ngăn cản tiếp xúc thì văn hoá vẫn là quan hệ, là tiếp xúc, là giao lưu, không có vă hóa tự túc.

Từ thế kỷ 17, văn hoá Việt Nam đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây, nhưng tiếc thay với chính sách bế quan toả cảng của chế độ phong kiến quan lại, văn hoá Việt Nam đã ở tình trạng tự túc và ngưng trệ nên đã dẫn tới thất bại trước sức mạnh của súng đạn, kỹ thuật của văn minh, văn hoá phương Tây. Từ nửa sau thế kỷ 19, đất nước bị đô hộ,vă hóa Việt Nam tiếp xúc và giao lưu với văn hóa phương Tây trong thế cưỡng ép, do bọn thực dân thồng trị áp đặt. Đã có những tiếp thu đổi mới trong phong tục như: đàn ông để tóc ngắn, mặc quần âu phục, đội mũ, khi giao thiệp không vá I lạy mà bắt tay, để răng trắng, phụ nữ miền Bắc mặc quần và sau đó thời trang đổi mới với chiếc áo dài, thay cho áo tứ thân, đi dày cao gót, bỏ ruột tượng và xà tíc… Những lễ giáo cổ hủ trong hôn nhân đã bị đả phá, phong tào “Âu hoá” lan tràn khắp thành thị. Bên cạnh việc dùng tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ được sử dụng và truyền bá rộng rãi. Trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật có những tiếp thu đổi mới như phong trào thơ mới, kịch nói, tiểu thuyết... Thể thao với nhiều môn như bóng đá, bóng chuyển, tennis trở thành phổ biến. Trong các trường học, bọn thực dân dạy tiếng Pháp, địa lý Pháp lịch sử Pháp, dạy biết ơn “mẫu quốc” sang khai hóa với mục đích nô dịch nhân dân ta nhưng tư tưởng ''Tự do, Bình đẳng, Bác ái'' của cách mạng 1789 Pháp với các quyền tự do dân chủ trong mọi hoạt của đời sống xã hội đã được văn hóa Việt Nam tiếp thu thông qua những những người con ưu tú học ngay trong nhà trường thực dân. Người Việt Nam đã nhận ra văn hóa phương Tây là của toàn thế giới, phản ánh một bước phát triển của nhân loại, không phải là của riêng thực dân Pháp đem vào. Văn hoá tiên tiến của phương Tây đã được tiếp thu kết hợp với sức sống của văn hóa dân tộc đã trở thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng cách mạng để đấu tranh giành lại nền độc lập cho tổ quốc. Để rút ra được việc tiếp thu nội dung tiên tiến phù hợp của văn hoá phương Tây, làm phong phú thêm văn hoá dân tộc, chúng ta đã phải trả giá bằng sự hy sinh ít nhất là của hai thế hệ, một thế hệ Cần vương và một thế hệ Tây học đầu thế kỷ XX.

Nhìn lại quá trình tiếp xúc và giao lưu của văn hoá dân tộc với các nền văn hoá lớn trên thế giới trong hai ngàn năm lịch sử, chúng ta đều thấy rõ bản sắc văn hoá dân tộc không phải là một cái gì bất biến, không có văn hoá tự tức mà nó là một sự hấp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới, vì sự phát triển của dân tộc, để trở thành một sức mạnh vật chất đưa dân tộc lên ngang tầm thời đại cùng với các nước trên thế giới, góp phần vào sự phát triển của văn minh thế giới. Ngày nay để xây dựng một nền văn hoá tiên tiến giàu bản sắc dân tộc chúng ta cần tiếp thụ những bài học của lịch sử dân tộc, mở rộng cánh cửa hội nhập, chọn lọc mọi tinh hoa của văn hoá thế giới làm giàu thêm cho văn hoá Việt Nam.

                       

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Nếp sống văn hóa Việt   Truyền thống Thẩm mỹ
Vì sao các bảo tàng ở Việt Nam vắng khách
Về bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và việc giao lưu với văn hóa thế giới
Văn hóa và hôn nhân
Tính cách dân tộc của người Việt ở Mỹ
Chúng ta tự hào đứng ngang tầm với các nhà Khoa học trên thế giới
"Người Việt mình đây mà..."
Ra đi anh nhớ quê nhà
Bữa cơm Việt Nam nơi xứ người
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google