Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Lược sử các phát minh
Những biện pháp phóng ngừa...
Lịch sử hình thành trái đất
Sự hình thành các thiên hà và...
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Những chặng đường của kỷ...
Sự tìm kiến những hành tinh...
Thiên hà
Nghiên cứu thám hiểm các hành tinh
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Nghệ thuật & Kiến trúc   Nghệ thuật sân khấu Hát Bội (Tuồng)   Nghệ thuật Hát Bội


VI

Hóa trang

            Ngoài y phục giả trang thì hóa trang (vẽ) trên mặt là điểm đặc biệt quan trọng trong Hát Bội. Nói khác đi, nếu không hóa trang, đậm màu, làm mặt để tạo nên một diện mạo nào đó thì không có Hát Bội.

            "Việc vẽ mặt đóng trò Hát Bội bắt nguồn từ thời xưa" (TVK, tr.62) ông trích dẫn "trong sách Nhạc Phủ tạp lục có chép rằng: "dùng mặt nạ để đóng kịch sanh ra trước nhứt ở Bắc Tề (479-501 sau CN).

            Ở nước ta vào đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), cuối thế kỷ XI sang đầu thế kỷ XII, ''năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân sang đánh quân nhà Tống ở châu Khâm, châu Liêm (thuộc tỉnh Quảng Đông bây giờ) và châu Ung (thuộc tỉnh Quảng Tây bây giờ) có bắt nhiều người ở mấy châu ấy đem về nước. Trong số những người ấy có mấy đạo sĩ lần đầu tiên cho ta biết cách vẽ mặt, bôi hề và làm các điệu bội”[1]. Nguyễn Đổng Chi đã theo sách VTTB mà viết rằng: "bọn đạo sĩ nhà Tống sang ta truyền cho trò Phấn Hí tức là một lối trò vẽ mặt cợt đùa"[2][11].

            Học giả Vệ Thạch Đào Duy Anh cũng ghi chép theo sách VTTB (VNVHSC, tr.296).

            Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề cũng trích dẫn ở VTTB và nói rõ là: "ở quyển Thượng, trang 30A" (VNCTBK, tr.31).

            Hoàng Thiếu Sơn chỉ trích dẫn những lời của Nguyễn Đổng Chi (Tạp chí Tri Tân số 142 ngày 11.5.1944).

            Học giả Đông Châu cũng ghi nhận như vậy (VTTB, Tạp chí Nam Phong số 122 Octobre 1927, tập 21).

            Mặt

            Hát Bội của ta thường hóa trang mặt rất kỹ chứ không đeo mặt nạ vì việc đeo mặt nạ rất phiền phức:

            - Mặt nạ làm sẵn, có tính cách "tĩnh" (chết) không linh động.

            - Đôi khi không vừa với khuôn mặt diễn viên gây vướng, khó chịu.

            - Không thể làm được những xung động trên mặt tạo ra những tình tiết (lúc giận dữ, vui, buồn (khóc) thể hiện trên nét mặt của diễn viên một cách linh hoạt. Thí dụ như: phùng má, trợn mắt, đảo tròng mắt, liếc xéo, cánh mũi phập phồng... Vả lại có trường hợp không thể dùng mặt nạ được. Thí dụ như vai Hạ Hầu Đôn chột một mắt.

            Như vậy, theo các học giả ghi chép trên thì nước ta biết cách “vẽ mặt” (hóa trang) bắt đầu từ thời vua Lý Nhân Tông (thế kỷ XI-XII). Điểm chính yếu của hóa trang mặt nạ là dùng màu sắc để biểu hiện cho nhân cách, tính tình của nhân vật. Cách thức hóa (stylisation), cường điệu hóa (intensification) lối dặm, vẽ mặt nhiều đường nét, nhiều màu sắc khiến cho sự tượng trưng tạo ra một sức tưởng tượng hết sức phong phú. Các màu sắc được sử dụng là đỏ tươi, đỏ bầm, hồng lợt, vàng, vàng kim, tím, xanh da trời, xanh lá cây, xám tro, bạc (ngân), đen và trắng (TVK, tr.63). Mỗi màu tượng trưng cho nhân cách của nhân vật. Theo ĐN, TVK thì:

            - Mặt màu đỏ, son hay ngân tượng trưng cho người anh hùng, nghĩa khí, trung liệt như: Quan Công, Cao Hoài Đức, Địch Thanh. Đôi khi để ngặt thiệt có dặm phấn lợt như: Tiết Nhơn Quý, Dương Lục Sứ, Tiết Đinh San, Triệu Tử Long...

            - Mặt màu trắng mốc, mặt màu xám hoặc hồng lợt, vỏ cua tượng trưng cho kẻ gian thần, nịnh thần như: Tào Tháo, Bàng Hồng, Tư Mã Ý...

            - Mặt vằn đen, trắng tượng trưng cho người trung trực, bộc trực, tính nóng, vai tướng võ như. Trương Phi, La Oai, Trương Bào...

            - Quan văn trung để mặt thiệt, giồi phấn hồng lợt. Lão thì vẽ lông mày trắng.

            - Tướng võ nịnh vẽ mặt vằn đen, trắng có xen chấm đỏ. Thí dụ như. Tạ Ôn Đình, Từ Hải Thọ, Đỗ Kiến...

            - Tướng Phiên vẽ mặt rằn rện, xen lẫn nhiều màu (ngụ ý mọi rợ).

            - Kép núi mặt màu xanh xám, má đỏ, đen hay xanh.

            - Thần tiên để mặt thiệt, xoa phấn hồng lợt, có hai điểm son trên gò má.

            - Yêu ma mặt nhiều màu rằn rện xen đỏ. Thí dụ như: yêu Hồ Ly, Mật Đà tăng.

            - Thầy rùa mặt rằn rực. Thí dụ như: Dư Hồng, Dư Triệt, Hổ Ngươn.

            Ngoại trừ trường hợp các vai đóng giả thú như: Tôn Ngộ Không (khỉ, hầu), Trư Bát Giới (heo, lợn) Ngưu Thần (trâu), Hạc Đồng (chim hạc), Lý Nguyên Bá Tiết Quỳ (mặt chim) thì phải vẽ theo nét các loại thú đó còn lại thường dùng duy nhất mặt nạ thổ địa.

            Các kiểu hóa trang mặt nạ trên thường dùng cho đào, kép. Đào thì mặt thiệt giồi phấn son, trang điểm mỹ lệ. Riêng vai Chung Vô Diệm vẽ mặt đen, vai Đào Tam Xuân vẽ mặt nửa trắng, nửa đỏ,…

            Tóm lại, màu đỏ tượng trưng cho người anh hùng nghĩa khí, trung kiên, chính trực, quang minh luôn luôn sẵn sàng ra tay cứu khổ, phò nguy, diệt tà, phò chính.

            Màu xanh lợt, xám, trắng bệch (mốc) là tượng trưng cho lũ gian ác, nịnh trên, đạp dưới, dối lừa thiên hạ, là hạng người ty tiện, nham hiểm, ganh ghét tài trí, cướp công lao của người khác, chỉ rình cơ hội hại người ngay thẳng.

            Nhiều màu vẽ pha trộn, xen kẽ lẫn nhau, vằn vện trông dữ tợn lộ vẻ quái đản là tượng trưng cho lũ yêu ma, quỷ sứ, bàng môn tả đạo.

            Khán giả dễ nhận biết nên khi diễn viên xuất hiện là mọi người đều hồi hộp, lo âu, sợ hãi hoặc vui mừng... đó là Hát Bội đã tạo ra cảnh ngộ, thể hiện được tâm lý phức tạp của con người.

            Phan Văn Trị (1830-1910) đã nhận ra sự tượng trưng đó trong bài thơ Vịnh Hát Bội của ông là:

            Người trung mặt đỏ, đôi tròng bực

            Đứa  nịnh râu đen mấy sợi còi.

Hóa trang mặt nạ trong sân khấu hát bội

 

            Tóc

            Dùng tóc giả dài, cột thành túm ở trên đỉnh đầu hoặc bới kết múi tùy vai diễn. Có thể dùng dây vải cột đè lên để giữ chặt tóc.

            - Màu trắng, bạc dùng cho vai tiên ông, lão ông, lão bà:

            - Màu đen dùng cho vai công chúa, nữ tỳ, giai nhân.

            Lông mày

            Màu trắng dùng cho vai lão. Vẽ hiền từ là người lành, vẽ mặt thô, mặt lớn là kẻ ác. Vẽ lông mày như bay, như múa là kẻ đắc ý. Lông mày dựng đứng là người nóng tính, giận dữ. Đôi mày cau có là người sầu muộn.

            Ông Đới Ngoạn Quân, một nhà điêu khắc trên ngà và vẽ kiểu mặt Hát Bội Trung Hoa có phần tích các loại mày như sau: mày thường, mày thẳng, mày xụ, mày thưa, mày rậm, mày răng cưa, mày răng sồi, mày dùi đục, mày bươm bướm, mày lửa ngọn, mày lá liễu v.v… (TVK, tr.64-65)...

            Theo Đinh Bằng Phi: mày tằm, lưỡi mác là tượng trưng cho khách trượng phu, người anh hùng; mày đoản (ngắn, gãy khúc) là kẻ gian xảo, trí trá; mày rô là kẻ nịnh thần; mày lửa (có viền đỏ) là người nóng tính.

            Mắt

            Mắt tròng xéo (có một cái vòng xéo trên con mắt), má đỏ, đen hay xanh... tròng lõa (đeo cặp mắt đồng có hai lỗ cỏn con vừa đủ trông thấy) vẽ cho vai yêu quái (ĐN, tr.44).

            Theo Đinh Bằng Phi thì “vẽ vòng quanh mắt cũng có nhiều loại: mắt tròng xéo vẽ cho kép võ còn trẻ (con nhà tướng), tròng trứng là võ tướng, tròng táo là tướng đứng tuổi, tròng lõa là lão tướng”.

            Trán

            Các loại trán: trán thái cực, trán bắc đẩu, trán quải tượng, trán não vàng, trán núi lửa, trán chữ hổ, trán chữ thọ, trán trái bầu, trán trái chùy, trán mặt trăng, trán trái đào, trán hình vật, trán thường... (TVK tr.65).

            Theo Đinh Bằng phi thì "trên trán có vẽ thêm một con mắt là người có huệ nhãn nhìn xa biết rộng, thông thiên đạt địa. Thí dụ: Thái sư Văn Trọng.

            Trên trán vẽ vòng tròn chia đôi hai màu: trắng, đỏ (âm dương: nhật nguyệt) thể hiện là người sáng suốt thông giao trời đất, soi rọi những nỗi oan ức của mọi người. Thí dụ như Bao Công.

            Miệng 

            Các loại miệng: miệng nén bạc, miệng cọp, miệng lôi công, miệng vịm lửa, miệng củ ấu, miệng quai xách... (TVK. tr.65).

            Râu

            Cũng có nhiều loại, thường có ba màu: trắng (bạc), đen, hung (đỏ).

            - Râu xanh năm chòm (ý muốn nói: râu chưa bạc, còn trẻ nên râu xanh, đen mượt) vai Quan Vân Trường (ĐN, tr.49).

            - Râu xanh (đen) dài cho vai quan văn (ĐN tr.44).

            - Râu trắng (bạc) dài cho vai lão võ (ĐN tr.49).

            - Râu bắp (màu hung) vai yêu quái (ĐN tr.44).

            - Râu đỏ (màu hung) cho vai tướng Phiên (ĐN tr.49).

            - Râu đen (ngắn) cho vai kép núi (ĐN TR.49).

            - Râu bạc (trắng) cho vai quan văn trung thần (TVK tr.63).

            Theo Đinh Bằng Phi thì "hàm râu cũng có đặc tính".

            - Râu ba chòm, năm chòm (đen, bạc) dài, suôn đuột là tượng trưng cho người đôn hậu, trầm tĩnh (giai cấp quý phái).

            - Râu đen xoắn là người nóng tính, dữ dằn.

            - Râu cắt (đen, đỏ, màu hung) là người có tính khôi hài, dễ dãi, hay đùa cợt.

            - Râu liên tu đen là kẻ gian nịnh.

            - Râu liên tu bạc là lão tướng anh hùng.

            - Râu liên tu đỏ (hung) là tướng phản phúc, yêu đạo, phù thủy.

            - Râu ngắn ba chòm (màu đen, bạc) là người dân thường, lão chài, lão tiều.

            - Râu chuột (ngúc ngoắc khi kể chuyện là kẻ liến thoắng, người bộp chộp).

            - Râu dê, râu vẽ là các vai hề giễu, những tay học trò dốt đi thi, công tử bột ve gái...

            Theo HNT, tr.18 thì ''râu chuột là râu mép, hai chùm mỏng, dài xuống dành cho bọn nịnh thần. Thí dụ: vai Lôi Nhược trong tuồng San Hậu”.

            Ngoài ra, khi xem các ảnh chụp vai diễn có thể thấy vai Hồ Nguyệt Cô hóa cáo vẽ hai bên mép (ria) mỗi bên ba sợi rõ, riêng không dính chùm, giống như mèo. Hoặc vai Trương Phi, Châu Xương (Châu Thương) râu đen, xoắn bao kín hàm (râu xồm); Vai Đổng Trác râu đen dài vừa ba chòm, hai bên ria mép rậm, ngang; vai Trịnh Ân râu hung xoắn bao kín hàm (râu xồm).

            Râu xồm (rầu hùm), râu chòm... thường bao kín cả ria mép làm tăng thêm vẻ uy nghi hoặc dữ tợn. Nguyễn Du (1765-1820) đã mô tả râu của Từ Hải.

Râu hùm, hàm én, mày ngài

            DỤNG CỤ ĐỂ HÓA TRANG (Xem thêm "đồ tùy thân của một nghệ sĩ Hát Bội).

            Theo NVQ, tr.15 thì nghệ sĩ hóa trang cần có "một cây dâm tre giép để vẽ mày hay mặt rằn, một cây dâm ống để vẽ mặt đỏ hay mặt mốc cho nghệ sĩ nam".

            Nữ nghệ sĩ thì có phấn son. Ngày xưa các cô đào không dùng son mà dùng một thứ giấy có tẩm màu Kiến Sen (màu hường đậm), cây dâm tre vẽ mày.

            Theo Đinh Bằng Phi thì “phẩm liệu hóa trang gồm có: son, phấn, lọ, ngân (một loại bột màu đỏ pha vàng thường gọi là kim nhũ), bột màu xanh, vàng với các dụng cụ: tăm, móng (bằng một loại gỗ đẽo dài độ hai tấc, một đầu bằng ngón tay cái móc sâu vào như một cái muỗng (thìa), đầu kia bào dẹp như mái dầm, dùng để trát phấn, ngân làm nền da mặt và vẽ các nét lọ), cùng một số cọ nhỏ hoặc bút lông". "Mỗi nghệ sĩ tự dặm mặt cho mình (hoặc hai người tự trao đổi vẽ lẫn cho nhau)... vì vậy người nghệ sĩ nào cũng biết sử dụng cả hai tay và biết tất cả các sắc mặt tướng", (NVQ, tr.45).

            Như vậy, các diễn viên không những phải diễn giỏi, hát hay, múa khéo, thuộc lòng vai diễn lại còn khéo léo trong công việc hóa trang không thua gì một họa sĩ tài danh nữa. Theo đó, đào tạo nên một diễn viên Hát Bội không phải dễ mà đòi hỏi một quá trình học hỏi lâu dài, tập luyện khổ công khiến chúng ta phải trân trọng, quý mến. Ngày nay, đã có một chuyên viên hóa trang để cho các diễn viên có đôi lúc rảnh tay, có vài phút trao đổi với nhau, thư giãn, ngõ hầu diễn xuất được ăn khớp đúng bài bản với nhau, đưa vở diễn đến thành công mỹ mãn.

 



[1][10] Lược khảo văn học Việt Nam, tr.304, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Hồng Phong, Văn Tân.

[2][11] Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi, tr.150 – 153.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Nghệ thuật & Kiến trúc   Nghệ thuật sân khấu Hát Bội (Tuồng)   Nghệ thuật Hát Bội
Y phục
Phân vai
Hóa trang
Điệu bộ
Vũ khí, đấu võ
Kết luận
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google