Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
Tiêu điểm
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Pulsar, một đồng hồ thiên...
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Những số liệu chủ yếu
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Lịch sử hình thành trái đất
Những người được giải thưởng...
Bối cảnh xuất hiện của con người
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Nghệ thuật & Kiến trúc   Nghệ thuật sân khấu Hát Bội (Tuồng)   Âm nhạc trong Hát Bội


I

Nhạc cụ

            CÁC LOẠI NHẠC CỤ           

            Theo TVK, tr.70-71, nhạc cụ sử dụng trong Hát Bội gồm có: trống, chiêng, chập chõa, đờn, kèn và ống sáo. Trống có năm thứ: trống chiến, trống cái, trống Bắc Cấu, trống lệnh. Trống chiến có ba cỡ: Trống chiến đại (to), âm thanh trầm, to, vang dội. Trống chiến trung (vừa), âm thanh vừa, tần số trung bình, rõ. Trống chiến tiểu (nhỏ), âm thanh trong, tần số cao.

            Như vậy, mỗi loại trống đều được làm theo kích cỡ đã được ấn định để mỗi thứ trống có một âm thanh khác nhau riêng biệt. Người đánh trống giỏi phải tùy loại trống mà đánh lên để tạo ra tiết tấu, nhịp điệu khác nhau, ngụ ý diễn tả cảnh tượng đang xảy ra trong vở tuồng. Người sành điệu chỉ cần nghe tiếng trống là có thể đoán biết được lúc đó là xáp trận hay hồi trào, cầm canh

            Theo Thân Văn NVQ, tr.14, thì giàn nhạc gồm có: trống chiến, trống cơm, trống chầu, kèn song hỷ, hầu cuổn, đàn nhị, đàn kìm, đàn đoán, đàn sến, ống tiêu, chập chõa, đổ đường (đồng la nhỏ treo trên giá), sanh, phách. Sau này có thêm đàn guitare (một loại nhạc cụ Tây phương) nhưng nghe không hạp với điệu Hát Bội.

            CÔNG DỤNG CỦA CÁC LOẠI NHẠC CỤ

            Trống

            Trống chiến thường dùng hơn các loại trống khác. Dùng để khi đánh giặc, lúc múa hát (TVK, tr.70). Trống chiến quan trọng vì nghệ sĩ nghe tiếng trống để múa và hát. Không có trống không hát được (NVQ tr.14).

            Như vậy, trống chiến có công dụng đa dạng, phong phú, diễn tả được tình tiết, trạng huống tùy theo cảnh diễn biến của vở tuồng.

            - Trống cái là thứ trống nhỏ để ra hiệu trong ba nhịp đờn đưa hơi cho diễn viên biết đặng bắt qua Nói Lối hay bắt qua Hát Nam (TVK, tr.71).

            - Trống cơm dùng khi Hát Nam Xuân hay Nam Ai để đưa hơi phụ với đờn (TVK). Vỗ theo giọng Hát Nam (NVQ). Sở dĩ người ta gọi trống cơm vì trước khi đánh trống, người ta trét hai đầu trống mỗi đầu một miếng cơm dẻo (đôi khi dùng cơm nếp) để đánh cho ấm tiếng.

            - Trống chầu dùng khi ra tuồng đánh sáu tiếng, mãn xuất đánh chín tiếng. Khen thưởng, khiển trách, phạt cũng dùng tiếng trống. Nghệ sĩ nếu diễn hát hay vừa thì chỉ đánh một tiếng “thùng” ngay giữa mặt trăng của trống. Khá hơn thì đánh hai tiếng gọi là “chầu đôi”. Xuất sắc: thưởng ba tiếng gọi là “chầu ba”. Khiển trách, phạt: đánh ngoài bìa (dăm) trống nghe tiếng “tang”. Lỗi nặng, cảnh cáo: gõ vào vành (tang) trống nghe tiếng "cắc" (TVK &NVQ).

            Như vậy, người cầm chầu có thể đánh vào giữa mặt trống, cạnh trống hoặc vành gỗ (tang trống). Tùy theo vị trí của trống mà âm thanh phát ra khác nhau. Chẳng hạn, đánh vào giữa da (mặt trống) thì âm thanh kêu "thùng" (tiếng to, rõ, vang ầm) ngụ ý diễn tả sự mạnh mẽ, có uy lực. Loại âm thanh này thường dùng trong chiến đấu, xáp trận hoặc đệm theo giọng hát hào hùng, uy dũng. Đánh vào vành da, tiếng kêu nghe “tang” (đanh, gọn, sắc) ngụ ý diễn tả cảnh buồn rầu, than van, oán trách. Đánh vào dăm gỗ (cạnh trống) thì tiếng kêu “cắc” (cụt, không vang) dụng ý để giữ nhịp hoặc đuổi nhịp.

            Đánh rung hai dùi vào giữa da mặt trống, tiếng kêu "rụp" (hơi vang) vì người đánh trống giỏi làm nảy cây dùi rung lên nghe thành “cà rạp”, gấp hai, ba lần tiếng “rụp”. Đánh một dùi chặn (tay trái cầm dùi đặt lên một phần mặt trống), còn một dùi tay phải đánh vào giữa da, tiếng kêu “tịch” (hơi rung) cũng ngụ ý diễn tả như tiếng vang. Đánh nhón dùi (đầu dùi) vào vành da, tiếng kêu ''tỏng" (có vang).

            Nghĩa là các cách đánh trống với các tiết tấu trên thì tiếng “thùng” âm thanh nghe rõ, vang dội. Các tiếng khác (tang, rụp, tịch, tỏng) còn có dư âm của da trống. Ngoại trừ tiếng “cắc” là tiếng đánh vào gỗ, âm thanh đục, không có tiếng vang.

            Như vậy các tiếng trống chầu đã được quy định sẵn. Các diễn viên đều hiểu khi nghe thấy tiếng trống phê phán đó mà cố diễn xuất cho thật hay và rất e dè, kiêng sợ, tránh tiếng trống phạt. Do đó, Hát Bội có một quy ước bất thành văn rất quy củ là: diễn viên không được phép mà cũng không dám “hát ẩu”. Chỉ cần nghe một tiếng “tịch” (tiếng trống bị bịt lại) là diễn viên biết mình bị “chê”. Tiếng tăm, sự nghiệp cầm ca xem như bị tổ trác, trắc trở. Ngay cả ông Bấu Gánh cũng lo lắng khi nghe tiếng “tang” là cần góp ý, nghĩa là trục trặc, chưa đúng quy cách, chưa được hài lòng, đêm diễn chưa được suôn sẻ. Ngược lại, không phải ai cũng phải là người có tài, có kinh nghiệm già dặn, quy tắc, luật lệ cầm chầu.

            Đánh trống sai quy cách không những diễn viên không hát được mà những người sành điệu cũng chê là “táng trống”.

            Ca dao có câu:

            Ở đời có bốn cái ngu

            Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.

            Cũng là ngầm tỏ ý bị người đời chê trách đối với những người cầm chầu dở. Trống chầu còn để giục khách. Trước khi ra tuồng chừng 15 phút, người ta thường đánh chầu ba có tiếng trống chiến phụ họa theo để cho khán giả nghe thấy mà chuẩn bị tới rạp. Cho nên có câu tục ngữ:

            Nghe trống chầu, cái đầu láng mướt

            Nghe trống chiến nó điếng trong bụng (TVK, tr.70)

            ý diễn tả cảnh nôn nóng của các bà, các cô vội vàng sắm sửa đi coi hát. Khi khán giả đã đến đông đủ, người cầm chầu đánh 9 tiếng trống cái ngỏ ý báo, đồng thời dàn nhạc cử bài trống rao. Ông Nhưng (bầu gánh) đánh ba tiếng trống lệnh là đêm hát bắt đầu diễn.

            - Trống lệnh có hai cái treo trong buồng trò, dùng lúc vua ra đại triều hoặc lúc mới khởi diễn tuồng.

            - Trống bắc cấu phối hợp với chập chõa dùng lúc các quan ra lâm triều hoặc khi vãn hát: Chiêng treo dưới giá để đánh phụ họa với trống chiến. Đánh chiêng dùng hai miếng tre hoặc hai miếng cây (dùi) gọi là "cặp sanh''. (TVK)

            Như vậy, trống là nhạc cụ chính, chủ yếu trong Hát Bội. Các loại trống và các cách đánh trống (thường được gọi là Bài Trống) làm nhạc đệm, tòng theo các kiểu hát như:

- Trống chiến đánh lên giữ nhịp cho người Nói Lối.

            - Trống đâm bang đánh lên là tướng sắp ra trận.

            - Trống tẩu mã dùng khi tướng đuổi theo giặc chạy trốn.

            - Trống giao chiến là khi hai bên xáp trận đánh nhau.

            - Trống đổ đệm khi đào kép ngâm, xướng.

            - Trống đổ chiêu nhịp khi đào kép đi vòng sân khấu.

            - Trống rụp đổ sáng dùng cho tướng Nói Lối.

            - Trống đổ xây tá đệm nhịp lúc tướng say rượu.

            - Trống cầm canh (còn gọi là tiếng trống thu không) dùng để báo hiệu về thời gian, đánh từng hồi ba tiếng một, thong thả đều nhịp, âm thanh thưa, nhẹ.

            Các loại khác

            - Kèn: Ngoài trống ra, trong dàn nhạc Hát Bội có một dụng cụ không thể thiếu được, đó là kèn dăm (song), một nhạc cụ thuộc bộ khí (hơi), phải dùng hơi để thổi. Dân chúng thường gọi kèn này là “kèn đám ma” vì các nhà đòn hay dùng trong các cuộc tang ma. Khi các diễn viên trình diễn các vai bi lụy, sầu oán, thương đau thì tiếng kèn dăm phụ họa nâng tiếng hát của diễn viên lên tuyệt đỉnh. Vì nếu tiếng trống tạo được bầu không khí sôi nổi thì âm thanh trầm của kèn dăm xoáy thẳng vào đáy tâm hồn của khán giả, dường như rút ruột người xem khiến không biết bao nhiêu người phải thổn thức khóc theo tiếng kèn làm rung động lòng người này? Chính kèn dăm đã đóng góp một phần lớn vào việc nâng cao nghệ thuật sân khấu của Hát Bội vậy.

            Kèn dùng khi Hát khách hoặc gợi cảm giữa hai câu Hát Nam. Kèn Song hỉ đi đôi với trống (Thần Văn NVQ).

            Hầu cuốn là kèn không có tòa lạ, hơi trầm, ấm để thổi theo giọng Quảng lúc khai màn, dâng rượu, vào trướng.

            - Đàn cò (đàn nhị) là đàn chánh. Kế là đàn gáo, đàn kim, đàn tam, đàn sến.

            - Ống sáo dùng phụ họa các cây đàn khi Hát Nam hay Hát Khách (cho đào). Hát giọng Hồ Quảng thêm cây đàn “cuổn” để đưa hơi (TVK, tr.71).

            - Ống tiêu dùng thổi đưa hơi khi hát Nam Ai.

            - Sanh, phách dùng để giữ nhịp theo các nhạc khí khác diễn tấu, đào kép hát.

            GIÀN NHẠC - VỊ TRÍ CÁC NHẠC CỤ (NHẠC SĨ)

            Theo hình vẽ trong sách NTSKVN của TVK thì có tất cả 12 nhạc sĩ. Mỗi nhạc sĩ phụ trách một thứ nhạc cụ ngồi theo hình tam giác vuông góc. Như thế, giàn nhạc phải ngồi ở dưới sân khấu ngay tại sàn diễn nhìn lên sân khấu.

            GsTs TVK trong Tạp chí Bách khoa số 62, trang 57-58 trích dẫn theo tài liệu của ông George Coulet: "Organisation matérielle du théâtre populaire chez les Annamites” (Về tổ chức Hát Bội của người Việt), tr. 36, thì dàn nhạc Hát Bội gồm có: kèn, sáo, đàn tam, đàn cò (nhị), đàn cò chỉ, trống trận, trống chiến, trống bát cấu, trống cơn, chập chõa, đồng la, nhịp. Nhạc công sắp theo hình tam giác, tất cả là 6 người.

            Số 1: người thứ nhất đánh trống (3 thứ trống).

            Số 2: người thứ nhì đờn cò hay đờn cò chỉ tùy lúc (gánh hát lớn có 2, 3 người đàn cò hoặc 2 người đàn cò một người đàn gáo (hồ).

            Số 3: người thứ ba đàn tam (có khi đàn sến hoặc đàn đoản).

            Số 4: người thứ tư thổi sáo.

            Số 5: người thứ năm thổi kèn.

            Số 6: người thứ sáu đánh nhịp sanh, đồng la hay chập chõa (sử dụng 3 nhạc cụ).

            Số nhạc công: 4 người cho gánh hát nhỏ. Thường thì 6, 7 người. Như hình vẽ thì một nhạc công có thể sử dụng 2, 3 nhạc cụ. Cần nhất là người cầm trống, người đánh đồng la, chập chõa, người đàn cò (nhị) và người thổi kèn (4 người).

            Có khi thêm: một đàn đoản hay đàn sến. Thường thì có một đàn cò (nhị), một đàn gáo (hồ).

            Trống chiến dùng để đánh nhịp chấm câu Nói Lối, đánh trống đâm bang (lúc tướng sắp ra trận), trống tẩu mã (lúc tướng cử binh ra rượt giặc), trống giao chiến (lúc xáp trận), nhịp Hát Khách, Hát Nam, nhịp Thày rùa, nhịp Ngoạn kiểu huê viên...

            Người đánh trống phải theo từng câu hát trên hoặc tùy đoạn mà "rao" (dạo đàn) trước để báo hiệu cho diễn viên chuẩn bị hát vào nhịp.

            Theo Thân Văn NVQ, tr. 14, thì “Người cầm trống là nhạc trưởng trống dàn nhạc Hát Bội”.

            Trống âm: tiếng “tông” là đánh giữa mặt trăng. Tiếng "táng'' là đánh hai bên gần ngoài bìa. Tiếng “tệch” là vừa đánh vừa dằn tay trái lên mặt trống. Tiếng ''cắc'' là gõ ngoài giăm. Vừa cầm trống, vừa nhịp song lang (bằng chân), đôi khi đánh luôn "Đổ đường'' (nghĩa là nhạc công này sử dụng được cả 2, 3 nhạc khí khác nhau). Cũng như người thổi kèn Song hỷ kiêm luôn đàn nhị (cò). Ví dụ: hát một câu Nam Ai rồi kèn đưa hơi một nhịp, hết hiệp thì người cầm trống nhịp phủ đầu: “Cắc cắc phách tông cắc cắc tông tông”. Phách là tiếng nhịp song lang. Xuống nhịp phách nữa thì hát.

            Theo điệu Hát Bội, giàn ngoài chỉ đưa hơi theo mà thôi, không bị buộc phải đàn y giọng hát. Ngược lại, người hát cũng không phải y theo tiếng đàn. Ví dụ: nói Lối Xuân thì đàn bài Hạ và câu hát không ăn khuôn với câu đàn. Chỉ có Hát Khách là kèn và giọng hát ăn rập với nhau. Dù vậy, kèn cũng chỉ đưa hơi, người thổi kèn tùy người hát. Nhờ hát không tùy thuộc vào đàn mà nghệ sĩ Hát Bội tùy tài năng diễn xuất hết tài nghệ của mình.

            Theo TVK, tr.73, nhận xét về âm điệu thì người hát không bị bó buộc trong câu đàn nên được tự do hát. Chẳng hạn, người hát nói “Lối Xuân”, ban nhạc cứ đàn ''Bài Hạ", người hát cứ hát câu Lối bằng văn vần, không hát theo câu Bài Hạ, miễn hơi cao, thấp của giọng hát ăn (hợp) với hơi cao, thấp của đàn thời được. Khi người hát nói "Lối Ai'', ban nhạc khởi đàn bài Xuân Nữ đặng đưa hơi buồn, chứ câu đàn không ăn theo tiếng chữ của câu đối. Nói ''Lối Ai'' rồi muốn bắt qua hát Nam Ai, ban nhạc liền ngừng đàn Xuân Nữ, khởi qua đàn bài Nam Ai đặng đưa hơi Ai. Người hát tự do hát câu Nam Ai lục bát của mình, không hát theo câu đàn Nam Ai.

            Các giọng Hát Bội đều có bài đàn đặc biệt đưa hơi để gợi cảm vui buồn cho khán giả, nhưng đàn không theo sát câu hát. Trừ ra trong điệu Hát Khách, đàn kèn ăn rập câu hát. Tuy nhiên kèn thổi đưa hơi để người hát tự do hát hết hơi sức của mình. Đó là chỗ lợi của âm điệu Hát Bội, giúp cho nghệ sĩ có khả năng, kinh nghiệm tha hồ thi thố tài nghệ.

            Tóm lại:

            - Về nhạc cụ: trong Hát Bội đã được quy định như vậy rồi, không nên xen kẽ một loại nhạc cụ Tây phương nào vào giàn.

            - Về nhạc sĩ: thường là có năng khiếu, học truyền khẩu lẫn nhau, thuộc lòng, thỉnh thoảng chỗ quên chút ít thì tự sáng kiến đánh dậm thêm vào cho nên không ai đàn y khuôn giống nhau như bài bản của nhạc Tây phương được ký âm theo ký âm pháp. Mỗi người đàn một lối miễn tiếng đàn ngọt cùng hát với người hát là được. Giàn nhạc cần độ 6, 7 người. Tối thiểu 4 người.

            - Về bài bản: thì nhạc Hát Bội theo nhạc lễ, nghĩa là thường nghe trong các cuộc ma chay, cúng đình, tế lễ.

            Theo Thân Văn NVQ, tr.15, thì ''Bài Hạ (nói Lối Xuân), Xuân Nữ (Lối Ai, Lối Rịn), Nam Xuân, Nam Ai, Bắc Man Tấn Cống, Khóc Hoàng Thiên (các bài): Ngâm, Thán, Oán, Khách thì giàn ngoài đưa hơi theo. Hát Tiều (Quảng Đông) có bài Khổng Minh tọa lầu. Ta bắt chước để đàn những khi chỉ ra bộ (điệu) mà không nói xướng chi như: quạt màn, dâng rượu...

            Như vậy là có một số bài bản được coi như mẫu mực, nhạc sĩ tùy cảnh ngộ mà đàn thuộc lòng.

            - Các nghệ sĩ tuy có tự do hát nhưng các giọng hát đều ăn khớp với các động tác (múa bỏ bộ), tay không hoặc cầm binh khí, chân bước tới, lui hoặc xoay người. Đó là quy cách "nhà nghề'' của Hát Bội khiến gây ra những cảm giác về mỹ thuật, thẩm mỹ, đẹp mắt cùng những cảm xúc rung động lâng lâng trong lòng khán giả đưa đến thích thú đam mê lúc nào không biết.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Nghệ thuật & Kiến trúc   Nghệ thuật sân khấu Hát Bội (Tuồng)   Âm nhạc trong Hát Bội
Nhạc cụ
Các giọng điệu hát bội
Nhận định
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google