Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Những biện pháp phóng ngừa...
Nghe lỏm tín hiệu của những...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Kỹ thuật vô tuyến phục vụ...
Sự hình thành các lục địa và...
Tính tuổi của trái đất
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Mô hình vũ trụ và "chất đen"
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc


KHỞI NGHĨA BÀ TRIỆU (248) – SỰ QUẬT CƯỜNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM

Khởi nghĩa Bà Triệu (248) – sự quật cường của phụ nữ Việt Nam

            Bà Triệu (225 - 248) sinh ti miền núi Nưa, quận Cửu Chân (nay là huyện Thiệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa)[1]. Theo sử cũ nước ta, tên thật của Bà Triệu là Triệu Ẩn. “Ẩu” trong tiếng Hán có nghĩa là “mụ” – người đàn bà. Triệu Ẩn có nghĩa là “mụ Triệu” hay người đàn bà họ Triệu[2].

            Từ nhỏ, Bà Triệu đã thể hiện là một cô gái giàu lòng yêu nước, có khí phách lớn. Bà rất chịu khó luyện tập võ nghệ. Lớn lên, bà trở thành một người phụ nữ can đảm, mưu trí, có có sức khỏe hơn người. Người ta đồn rằng, tuổi thanh niên, bà đã đánh được voi dữ một ngà và thu phục nó. Bởi thế, trong dân gian còn lưu truyền bài ca:

                        Có Bà Triệu tướng

                        Vâng lệnh trời ra

                        Trị voi một ngà

                        Dựng cờ mở nước

            Khi bà sang 19 tuổi, nhiều người khuyên bà nên sớm lấy chồng. Bà đã đáp bằng câu nói đầy khí phách: ''Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người ta”[3].

            Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt hiệp mưu, tính kế, tập hợp nhân dân chống lại quân Ngô. Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn, Phú Điền (nay thuộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa). Đây là một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi thấp, dãy phía bắc (Châu Lộc) là đoạn núi chót ngăn cách hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình, dãy núi phía Nam (Tam Đa) là đoạn chót của dải núi chạy dọc sông Mã. Chân phía Bắc núi Châu Lộc là sông Lèn, chân phía nam núi Tam Đa là sông Âu, xưa là một dòng sông lớn. Thung lũng mở rộng cửa về phía đồng bằng ven biển và bị chặn ngang về phía tây bởi dòng sông Lèn. Từ căn cứ này, ngược sông Lèn có thể liên lạc với miền quê Bà Triệu. Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ từ đồng bằng miền Bắc vào Thanh Hoá, nên đây là một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả công lẫn thủ.

            Hưởng ứng lá cờ khởi nghĩa của hai anh em Bà Triệu, nhân dân ở Cửu Chân theo rất đông[4]. Nghĩa quân ngày đêm luyện tập, mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy. Nhân dân vùng Thanh Hoá còn truyền lại bài ca dao nói lên khí thế nô nức của nhân dân đi theo Bà Triệu:

Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi

Muốn coi lên núi mà coi

Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Túi gấm cho lẫn túi hồng

Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân

            Năm 248, nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngô. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ Cửu Chân rồi lan rộng ra cả nước. Tương truyền, khi ra trận bà thường mặc áo giáp, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi đầu voi, tả xung hữu đột, uy phong lẫm liệt. Oai phong lẫm liệt của bà khiến cho quân Ngô kinh hồn bạt vía phải thốt lên rằng:

                        Hoành qua đương hổ dị

                        Đối diện Bà vương nan

                        (Múa giáo đánh hổ dễ

                        Đối mặt vua Bà khó)

            Trước khí thế tiến công mạnh mẽ của quân ta, các thành ấp của quân Ngô bị đánh tan tành. Bọn cai trị kẻ bị giết, kẻ thì bỏ chạy. Thứ sử Giao Châu cũng bị giết. Sử Đông Ngô sau này phải thú nhận: ''Năm Mậu Thìn (248) toàn bộ Giao Châu đều chấn động”[5].

            Bấy giờ, ở phương Bắc nghe tin thứ sử Giao Châu bị giết, Tôn Quyền lập tức cử Đô uý Lục Dận sang làm An Nam hiệu uý Thứ sử Giao Châu và dẫn ngay một vạn quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Bà Triệu và anh trai đã cử tướng đem quân lên biên giới chặn giặc. Nhưng do thế giặc mạnh cùng sự tài giỏi và mưu mô của Lục Dận, nghĩa quân đã bị đẩy lui.

            Trong lúc đang tìm cách đối phó với giặc Ngô thì anh trai của bà bị bệnh nặng qua đời. Quân lính tôn bà lên làm chỉ huy tối cao. Nén đau thương bà quyết tâm chỉ huy nghĩa quân chiến đấu với quân giặc. Nghĩa quân của bà đã chiến đấu rất kiên cường, đánh địch trên 30 trận trong vòng hai tháng. Nhiều lần, nghĩa quân đã nhấn chìm giặc Ngô xuống dòng sông Mã bằng cách lăn đá và cây cối từ trên núi xuống, đè bẹp quân giặc, khiến chúng vô cùng khiếp sợ. Giặc gọi tên bà là Ngụy Kiều tướng quân (Vị tướng nữ yêu kiều), là Lệ Hải bà vương (Vua bà vùng biển mĩ lệ).

            Sau một thời gian cầm cự, Lục Dận vừa dùng mưu mô xảo quyệt lấy vàng bạc mua chuộc, chia rẽ đội ngũ lãnh đạo của nghĩa quân, vừa điều thêm quân lính bao vây căn cứ khiến cho cuộc khởi nghĩa ngày càng lâm vào tình thế khó khăn. Trong một trận huyết chiến tại Bộ Điền (nay là xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), Bà đã hy sinh trên núi Tung khi mới 23 tuổi[6]. Ngày nay, trong dân gian vẫn còn truyền nhau câu ca:

                        Núi Tùng nắng quyện mây trời

                        Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh

            Nối tiếp truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc nói chung và khí phách của phụ nữ Việt Nam nói riêng, khởi nghĩa Bà Triệu là sự kết tinh ý chí, nguyện vọng giành độc lập dân tộc không mệt mỏi của nhân dân Việt Nam dưới ách đô hộ của phương Bắc. ''Đó không phải là cuộc nổi dậy đơn lẻ ở một địa phương mà là sự vùng dậy của cả một dân tộc. Nó không chỉ giành lại được một huyện, giết được một viên thứ sử mà đã làm rung chuyển toàn bộ nền thống trị của nhà Ngô trên đất nước ta”[7].

            Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại nhưng nó ghi thêm một dấu son nữa trong lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc nói chung và 1.000 năm Bắc thuộc nói riêng. Hình ảnh Bà Triệu vẫn in đậm trong tâm trí người dân Việt Nam. Thậm chí, hình ảnh của Bà còn được huyền thoại hóa để trở thành một vị thần, một nhân vật khác người: “Ẩu vú dài ba thước, khi đi đánh giặc thường vắt ra phía sau”[8]. Bà chính là hiện thân cho ý chí quật cường của dân tộc, kết tục xứng đáng sự nghiệp đấu tranh của Hai Bà Trưng và truyền thống anh hùng của nhân dân ta.

            Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu đồng thời cũng thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ đối với thuyết “Nữ nhân nan hóa” mà chính quyền phương Bắc ra sức nhồi nhét vào đầu óc nhân dân ta. Về sau, Lý Nam Đế khen bà là bậc trung dũng, sai người lập đền thờ và phong cho là “Bậc chính anh hùng tài trinh nhất phu nhân”.

 



[1] Về quê hương của Bà Triệu, đồng thời cũng là quê hương của cuộc khởi nghĩa đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau. Sách xưa nhất có chép đến Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa do và lãnh đạo là các sách Nam Việt chí (thế kỉ IV), Giao châu ký (thế kỉ V) và Thái Bình hoàn vũ ký (thế kỷ X). Các sách trên đều không ghi chép cụ thể về Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa, cũng không chép thành một mục riêng mà chỉ ghi mấy dòng trong bối cảnh chung của tình hình Giao Châu vào đầu thời Đông Ngô và không chép cụ thể quê hương của Bà Triệu mà chỉ nhắc đến chung chung: quê Bà Triệu ở quận Cửu Chân.

Chính sử của ta như Đại việt sử ký toàn thư cũng chỉ chép một đoạn ngắn: “Đến sau người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩn (Ẩu vú dài ba thước, vắt lên sau lưng, thường ngồi đầu voi đánh nhau với giặc) họp quân đánh cướp quận huyện. Dân dẹp yên được”.

Như vậy, tuy không chép cụ thể quê quán Bà Triệu nhưng các sách đều thống nhất ở một điểm chung đó là quê Bà Triệu ở Cửu Chân. Có lẽ cuốn sách đầu tiên chép cụ thể về quê Bà Triệu alf sách Thanh Hóa thắng kỷ của Vương Duy Trinh. Sách đó chép rằng, Bà Triệu quê ở Sơn Trung (thuộc xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn) dưới chân núi Nưa. Các sách từ đầu thế kỷ XX đều chép theo sách của họ Vương. Thực ra, Thanh Hóa thắng kỉ là kết quả của một quá trình sưu tầm và tập hợp tư liệu rất công phu của Vương Duy Trinh, trong đó phần ghi chép về tài liệu của Bà Triệu là tài liệu thu thập được qua những đợt điều tra qua truyền thuyết dân gian, cũng chưa có nguồn tư liệu nào tỏ ra chắc chắn hơn và chính xác hơn về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Gần đây có người cho rằng quê hương của Bà Triệu ở vùng Quan Yên, nhưng chứng cứ khẳng định cho điều đó cũng không có cơ sở chắc chắn. Chúng tôi cho rằng quê hương của Bà Triệu ở vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) là hợp lý.

(Theo: Nguyễn Cảnh Minh (cb): Lịch sử Việt Nam

từ nguồn gốc đến thế kỷ X, Sđd, tr.116).

[2] Sau này trong các cuốn sách viết về cuộc khởi nghĩa của bà Triệu còn gọi băng nhiều tên khác nhau. Chẳng hạn, tập “Thanh Hóa thắng kỷ” của tác giả Vương Duy Trinh cho rằng bà họ Triệu, tên Trinh, gọi là Triệu Thị Trinh. Lại có ý kiến cho rằng Triệu Thị Trinh có vẻ “hiện đại” quá nên đổi thành Triệu Trinh Nương. Nhưng Triệu Trinh Nương lại có vẻ “Trung Quốc” quá. Cuối cùng, người ta đề xuất tên bà là Triệu Quốc Trinh (vì bà có anh trai là Triệu Quốc Đạt). Tuy nhiên, theo chúng tôi tên Triệu Ẩn là hợp lý hơn cả, vì: Thứ nhất, trong các sách sử cũ nước ta và Trung Quốc đều chép là “người đàn bà họ Triệu, không rõ tên”. Thứ hai, ý kiến của tác giả Vương Duy Trinh và các tác giả khác về tên gọi Bà Triệu thì chưa rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa có căn cứ khoa học rõ ràng (Xin xem thêm: Bộ Quốc phòng, Viện lịch sử quân sự Việt Nam Danh nhân lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr 40 - 41).

[3] Trương Hữu Quýnh (cb), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr 89.

 

[5] Theo: Đặng Huy Phúc, Việt Nam anh kiệt, NXB Hà Nội, 2004, tr 32.

[6] Vế sự thất bại của cuộc khởi nghĩa và cái chết của Bà Triệu có truyền thuyết nói rằng: có kẻ phản bội, mách với Lục Dận rằng Bà là nữ tướng “ái khiết úy ô” (yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn), Lục Dận đã dùng mưu kế hèn hạ, cho quân lính trần truồng ra trận. Bà Triệu xấu hổ, bỏ chạy, giao binh cho 3 tướng họ Lý và chạy lên núi Tùng tự vẫn để giữ trọn khí tiết của mình. Truyền thuyết ấy chứa đựng một nét đẹp trong tâm hồn người Việt, khẳng định sự tôn kính và ngưỡng vọng khí phách của người nữ anh hùng họ Triệu đã hy sinh vì sự nghiệp chống ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc.

[7] Bộ Quốc Phòng, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Danh nhân lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr 45.

[8] Bộ Quốc Phòng, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Danh nhân lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr 45.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
Chính sách bóc lột về kinh tế của phong kiến phương Bắc và những chuyển biến kinh tế - xã hội của Âu Lạc (179 TCN - 938)
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) và sự hồi sinh của dân tộc Việt
Khởi nghĩa Bà Triệu (248) – sự quật cường của phụ nữ Việt Nam
Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân
Triệu Quang Phục và căn cứ Đầm Dạ Trạch
Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (772)
Khởi nghĩa Phùng Hưng (776)
Họ khúc với công cuộc khôi phục quyền tự chủ nước Việt ở thế kỷ X
Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google