Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Kính thiên văn và đài thiên...
Một sự kiện hiếm có: những...
Thiên văn vô tuyến và những...
Tính tuổi của trái đất
Những người được giải thưởng...
Kỹ thuật vô tuyến phục vụ...
Một số dạng vượn - người và...
Những hậu quả của nền văn minh...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc


Triệu Quang Phục và căn cứ Đầm Dạ Trạch

Triệu Quang Phục và căn cứ Đầm Dạ Trạch

            Triệu Quang Phục là người kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế. Ông là con trai của một tù trưởng huyện Chu Diên (nay tức tỉnh Hưng Yên). Cả hai cha con Triệu Quang Phục đều là những người giàu nghĩa khí, văn võ toàn tài.

            Năm 542, nghe tin Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa chống nhà Lương, hai cha con Triệu Quang Phục đem theo một số nghĩa sĩ từ Chu Diên đến Long Hưng tham gia. Được Lý Bí tin cậy, cha con Triệu Quang Phục đã đem hết sức cống hiến cho cuộc khởi nghĩa. Hai cha con đã trực tiếp tham gia chỉ huy nghĩa quân đánh đuổi thứ sử Tiêu Tư và bọn viên quân Tôn Quỳnh, Lưu Tử Hùng, lập được nhiều công lớn.

            Năm 544 sau khi quân Lương bị đánh đuổi khỏi bờ cõi, Lý Bí lên ngôi, xưng là Lý Nam Đế, dựng nước Vạn Xuân. Triệu Quang Phục được phong làm Tả tướng quân. Sau đó, ông được phong làm Đại tướng, thay cho Phạm Tu, nắm toàn quyền chỉ huy quân đội.

            Năm 545, Vua Lương cử Dương Phiêu cùng Trần Bá Tiên chỉ huy quân đội sang xâm lược Vạn Xuân, nhằm khôi phục lại quyền thống trị đất nước ta. Các cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Trong các cuộc chiến đấu chống Lương ở thành Gia Ninh, hồ Điển Triệt. Triệu Quang Phục luôn bên cạnh Lý Nam Đế, giúp việc chỉ huy, đóng góp nhiều công sức lớn. Tuy nhiên, do quân Lương đông lại mạnh, quân ta nhanh chóng bị đẩy lui. Bị thất bại ở hồ Điển Triệt, Lý Nam Đế phải đưa quân về động Khuất Lão[1]

            Vốn thông thuộc vùng sông nước Chu Diên, Triệu Quang Phục quyết định chuyển hướng chiến lược, thay đổi phương thức tác chiến cũ không phòng ngự, cố thủ hay tập trung lực lượng quyết chiến với địch nữa. Ông đã thu nạp binh sĩ, chấn chỉnh lại một đội quân gồm vài vạn người. Sau đó, Triệu Quang Phục xin Lý Nam Đế kéo quân về xây dựng căn cứ tại Đầm Dạ Trạch thuộc bãi Man Trù[2], huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), chỉ để lại một cánh quân giữ động Khuất Lão, bảo vệ nhà vua.

            Đầm Dạ Trạch[3] là một vùng Đồng lầy rộng mênh mang, xung quanh lau sậy mọc um tùm, có nhiều sông rạch chia cắt, ở giữa có một bãi đất cao, rộng, có thể dựng lán và trồng trọt lúa, ngô, khoai, rau. Đường vào bãi rất kín đáo, khó khăn, chỉ có dùng thuyền độc mộc nhẹ lướt trên cỏ nước theo mấy con lạch nhỏ thì mới tới được… Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi ấy. Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa phát bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc binh lương, ban ngày tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng như không có người, đến đêm nghĩa quân mới kéo thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp được nhiều lương thực, “làm kế trì cửu” (cầm cự lâu dài). Dạ Trạch lại nằm ở vùng đồng bằng, dân cư đông đúc nên nên cung cấp nhiều sức người, sức của, bổ sung cho cuộc kháng chiến. Địa thế ở đây bất lợi khi quân thủ bao vây, tiến đánh nhưng lại phù hợp với lối đánh du kích, trường kì của quân ta, vừa đánh, vừa củng cố, phát triển lực lượng và làm tiêu hao lực lượng của quân địch.

            Lợi dụng địa thế hiểm trở của vùng đầm Dạ Trạch, Triệu Quang Phục đã cho xây dựng nơi đây thành một căn cứ quân sự, vừa luyện tập, vừa chuẩn bị cho không chiến lâu dài.

            Trên cơ sở xây dựng căn cứ kháng chiến và tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Triệu Quang Phục đã chỉ huy quân sĩ vận dụng lối đánh du kích, từng bước xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến. Nhờ vậy, cục diện của cuộc chiến đã thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Quân ta đã phát huy được sở trường của mình, hạn chế mặt mạnh của địch, làm cho chúng gặp nhiều khó khăn, lực lượng bị hao mòn nghiêm trọng. Quân Lương hung hăng muốn thực hiện kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh hòng tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta, nhưng không thể thực hiện được.

            Trải qua 4 năm (547 - 550), tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi. Ta càng đánh càng mạnh, quân Lương càng đánh càng lâm vào tình trạng khó khăn.

            Năm 548, Lý Nam Đế ốm và qua đời tại Khuất Lão. Triệu Quang Phục kế tục sự nghiệp của Nam Đế, lên ngôi, lấy niên hiệu là Triệu Việt Vương (nhân dân vẫn thường gọi là Dạ Trạch Vương (Vua Đầm Đêm)). Cùng năm này, Trung Quốc có biến. Hầu Cảnh cướp ngôi, giết nhiều quí tộc nhà Lương. Bọn hào trưởng khắp nơi nổi dậy chống chính quyền. Trần Bá Tiên được điều về đẹp loạn trong nước, giao lại toàn bộ binh quyền cho tướng  Dương Phiêu. Lợi dụng cơ hội đó, Triệu Quang Phục đã mở cuộc phản công chiến lược, đánh thẳng vào thành Long Biên đuổi sạch quân xâm lược, giành lại nền độc lập cho đất nước ta. Sử cũ chép: “Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Bá Tiên về ủy cho tướng là Dương Sàn (tức Dương Phiêu – TG chú), đánh nhau với vua (tức Triệu Quang Phục – TG chú). Vua tung quân ra đánh, Sàn chống cự, bị thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Nước ta được yên. Vua vào thành Long Biên ở”[4].

            Như vậy, trải qua 6 năm kháng chiến (545- 550), quân dân ta dưới sự lãnh đạo của các vị chỉ huy Lý Bí, Đình Thiều, Phạm Tu, Triệu Quang Phục đã anh dũng đứng lên đấu tranh giành lại nền độc lập cho nước nhà. Trong thành quả lớn lao đó ngoài công lao của nhân dân ta, đứng đầu là các tướng lĩnh phải kể đến công lao và vai trò của đại tướng quân Triệu Quang Phục.

            Sau khi thắng giặc ngoại xâm, Triệu Quang Phục giữ ngôi vua, trông coi việc nước.

            Năm 557, Lý Phật Tử[5] đem quân gây chiến tranh giành quyền lực với Triệu Việt Vương. Cuộc nội chiến giữa Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục không phân thắng bại, cuối cùng hai bên giảng hòa, chia đất làm 2, lấy ranh giới là Bãi Chuối Phấn (nay là Thượng Cát, Hạ Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Lý Phật Tử cho con trai mình là Nhã Lang sang cầu hôn con gái Triệu Việt Vương Cảo Nương. Triệu Việt Vương muốn hòa hiếu nên đồng ý gả con gái và cho Hạng Lang được ở rể. Năm 571, Lý Phật Tử bội ước đem quân đánh úp Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương bất ngờ không kịp trở tay, bị bại trận. Triệu Việt Vương chạy về phía Nam đến bờ biển Đại Nhai (nay là Đại An, huyện Nghĩa Tường, tỉnh Nam Định) tự vẫn.

            Sự thất bại của Triệu Việt Vương trước âm mưu lấy hôn nhân giả hòa của Lý Phật Tử cũng được “Đại Việt sử kí toàn thư” chép lại, có nội dung chi tiết gần gũi với câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy[6].

            Đánh giá về sự kiện này, sử thần nước ta là Ngô Sỹ Liên có lời bàn cả về Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử.

            - Lời bàn thứ nhất: “Đàn bà gọi việc lấy chồng là quy, vậy thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái của Nhà vua đã gả cho Nhã Lang, thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong”[7].

            - Lời thứ hai : “Lấy thuật tranh bá mà xét thì Hậu Lý Nam Đế (tức Lý Phật Tử) đánh Triệu Việt Vương là đắc kế, song, lấy đạo của bậc làm Vua mà xét thì việc ấy không bằng cả lũ chó, heo. Vì sao? Khi Tiền Lý Nam Đế (chỉ Lý Bí) ở động Khuất Lão đã đem các việc quân quốc ủy cho Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương thu nhặt tàn quân, bám giữ đất hiểm là đầm Dạ Trạch bùn lầy nước đọng để đương đầu với người hùng một thời là Trần Bá Tiên, cuối cùng bắt được tướng của hắn là Dương Sàn, người phương Bắc buộc phải lui quân. Khi ấy, Vua (chỉ Lý Phật Tử) trốn trong đất Di Lão, chỉ cầu mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi. May được Trần Bá Tiên về Bắc, Lý Thiên Bảo qua đời, Vua mới có cơ hội đem quân đi đánh Triệu Việt Vương, gian trá dùng mưu xin hòa và kết mối thông gia để hại người. Triệu Việt Vương đã lấy lòng thành mà đối đãi, lại còn cắt đất cho mà ở, như thế, mọi việc đều chính nghĩa, giao hảo rất phải đạo, thăm viếng cũng phải thời, đó há chẳng là đạo trị yên lâu bền hay sao? Thế mà Lý Phật Tử lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ cả nhân luân chính đạo, tham lợi mà vong ân, tuy đánh cướp được nước nhưng Nhã Lang thì phải chết còn thân mình thì sau phải vào tù (chỉ việc Lý Phật Tử bị nhà Tùy bắt năm 602), phỏng có ích gì đâu''[8].

            Hai lời bàn trên đúng sai tùy người đời suy xét. Tuy vậy, sự thất bại của Triệu Quang Phục cũng như An Dương Vương trước đây đã được các sử gia phong kiến chỉ rõ nguyên nhân: “An Dương Vương bại vong là do nỏ thần bị đổi lẫy, Triệu Việt Vương bại vong là vĩ mũ đâu mâu mất móng rồng, đều là mượn lời để cho vật trở thành linh thiêng mà thôi. Đại phàm việc giữ nước chống giặc tự có đạo lý của nó, đúng đạo lý thì được nhiều người giúp mà nước hưng, mất đạo lý thì ít người giúp mà nước mất, không phải vì những thứ ấy”[9]. Đây có lẽ cũng là quy luật muôn đời của việc trị nước.

            Dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: Việc khôi phục lại độc lập trong nước trong vòng gần 60 năm, công lao lớn nhất thuộc về Lý Nam Đế, kế đến là Triệu Quang Phục – Triệu Việt Vương. Ông đã kế tục xuất sắc sự nghiệp của Lý Nam Đế. Ông là người có nhiều đóng góp to lớn vào kho tàng nghệ thuật quân sự cho đời sau như: Phát hiện và xây dựng căn cứ địa kháng chiến – Đầm Dạ Trạch. Trên cơ sở đó, lợi dụng ưu thế của địa hình, địa vật và phát huy cách đánh sở trường của mình. Sử dụng lối đánh du kích, phương thức tác chiến lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh để chuyển hóa lực lượng ngày càng có lợi cho ta, tiến tới giành thế chủ động. Từ đó, chớp thời cơ và tận dụng thời cơ thực hiện phân công chiến lược, đánh tan quân thù ra khỏi bờ cõi, giành độc lập cho dân tộc.

            Cuộc đời và sự nghiệp của Triệu Quang Phục đã khẳng định ông là một vị tướng, một lãnh tụ nghĩa quân có tài, có tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc.



[1] Động Khuất Lão nay còn gọi là Khuất Liêu, là căn cứ cuối cùng của Lý Nam Đế và triều đình Vạn Xuân. Đây cũng là nơi chứng kiến những hoạt động và những ngày cuối cùng của Lý Bí. Nằm giữa khu vực thuộc hai xã Văn Lang và Cổ Triết, động Khuất Lão là một khu đồi nhỏ, diện tích ước chừng hơn 40 mẫu. Dân gian còn gọi là khu “Cỏ bồng”, “Tam khu”. Tương truyền đây là nơi chôn cất Lý Bí cho nên cũng gọi là Khu Lăng. Vùng này khu xưa là một vùng cây cối rậm rạp không có ai bước vào được. Những ngày tế lễ, dân từ làng Danh Hựu muốn vào khu lăng này phải đi bằng thuyền, vì xung quanh là đầm lầy bao bọc. Trước đây, ở giữa khu lăng có đền thờ Lý Bí là Lý Thiên Bảo, sau đó do điều kiện đi lại khó khăn nên đã được đưa về đình làng thờ cúng. (Theo: Nguyễn Cảnh Minh (cb): Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ X, Sđd, tr 120).

[2] Có sách chép là bãi Man Trò.

[3] Đầm Dạ Trạch thuộc huyện Chu Diên xưa, nay là miền đất Khoái Châu – Hưng Yên, là một vùng đầm lầy sát ngay ven sông Hồng, đất rộng, lau sậy um tùm, ở giữa là một bãi đất phù sa cao hẳn lên. Đường vào bãi rất khó khăn, lại kín đáo, chỉ dùng thuyền độc mộc nhỏ nhẹ lướt trên mặt, theo con lạch mới tới được. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: “Đầm này ở huyện Chu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại quả quân Bá Tiên, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được. Người trong nước gọi là Dạ Trạch Vương”. (Theo Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 37).

[4] Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 38 – 39.

[5] Lý Phất Tử vốn là tướng của Lý Nam Đế, từng nổi dậy chống Triệu Quang Phục. Năm 548, sau khi Lý Nam Đế mất, Phật Tử cùng Lý Thiên Bảo dẫn 3 vạn quân vượt vào Cửu Chân tiếp tục kháng chiến, sau lui về Thanh Hóa xây dựng căn cứ. Sau khi, Lý Thiên Bảo mất Lý Phật Tử lên ngôi thống lĩnh quân đội ở đó. Sau khi Triệu Quang Phục đánh thắng quân Lương, Lý Phật Tử tự cho mình thuộc họ Lý nên đã đem quân đánh chiếm các quận, huyện gây chiến với Lý Nam Đế từ năm 577.

[6] Xin xem thêm: Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 38 – 39.

[7] Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 39.

[8] Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 40.

[9] Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, tr 9.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
Khởi nghĩa Bà Triệu (248) – sự quật cường của phụ nữ Việt Nam
Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân
Triệu Quang Phục và căn cứ Đầm Dạ Trạch
Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (772)
Khởi nghĩa Phùng Hưng (776)
Họ khúc với công cuộc khôi phục quyền tự chủ nước Việt ở thế kỷ X
Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ
Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938)
Nhà nước Lâm Ấp – Chăm Pa
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google