Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Sự va chạm giữa những thiên thể
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Các giải nobel về sinh lý học...
Nghe lỏm tín hiệu của những...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Lược sử các phát minh
Lỗ đen - một vực thẳm không đáy
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Sự hình thành các thiên hà và...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc


Nhà nước Lâm Ấp – Chăm Pa

Nhà nước Lâm Ấp – Chăm Pa

(Thế kỷ II - X)

            1. Sự thành lập nhà nước Chămpa

v     Cội nguồn của nhà nước Chămpa

      Theo các nhà nghiên cứu thì thực tế “không có một tộc gọi là Chăm riêng biệt ngay từ đầu mà chỉ là một bộ phận dân cư nói tiếng Malayo – Polyesian… sống ở ven biển miền Trung Việt Nam ngày nay, được gọi là Chăm là do gắn với Chămpa, từ khi họ thành lập Vương quốc Chămpa”[1].

            Tuy nhiên, vấn đề quan trọng ở đây là: Vương quốc Chămpa bắt nguồn từ đâu, chủ nhân thực sự của nó là ai?

            Cho đến nay, các nhà khảo cổ, văn hoá học đều tạm xác nhận: Văn hoá Chămpa là sự phát triển kế tục của văn hoá Sa Huỳnh và cư dân Chămpa chính là hậu duệ của cư dân văn hóa Sa Huỳnh.

            Văn hoá Sa Huỳnh có niên đại cuối thời kì đồ đồng và sơ kì đồ sắt, cách ngày nay khoảng 4000 năm (muộn nhất là khoảng TK I - II SCN).

            Trong tính diễn tiến liên tục của các nền văn hóa, người ta thấy có sự nối tiếp, kế thừa hoa văn gốm của các di chỉ văn hoá Bình Châu, Long Thạnh (thuộc Quảng Ngãi), tạm gọi là Tiền Sa Huỳnh, có nhiều điểm tương đồng với Inđonêxia và xa hơn là Poliexia nói tiếng Mã Lai – Polynesian (Nam Đảo với nhiều yếu tố Nam Á). Như thế tức là văn hoá Sa Huỳnh - nền văn hoá sắt sớm mang dấu ấn của văn hoá biển hải đảo.

            Các di chỉ thuộc văn hoá Sa Huỳnh với sự phong phú về chủng loại và số lượng các hiện vật cho thấy sự phát triện của sức sản xuất và có thể trong xã hội đã có sự phân chia kẻ giàu, người nghèo. Đây là cơ sở cho phép nghĩ rằng ở giai đoạn cuối của văn hoá Sa Huỳnh đã có đủ điều kiện cho sự hình thành một nhà nước sơ khai.

            Bằng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic; người ta nhận thấy có sự trùng hợp về địa bàn phân bố, niên đại kết thúc văn hoá Sa Huỳnh và niên đại mở đầu nhà nước Chămpa, cũng như sự nối tiếp của một số loại hình hiện vật (gốm, trang sức, đồ tuỳ táng và cách tuỳ táng) từ văn hoá Sa Huỳnh đến văn minh Chămpa. Quan trọng hơn, trong cuộc khai quật khảo cổ học ở di chỉ Lung Leng (Yaly - Ken Tum) - địa bàn của cư dân Môn Khmer (Môn Cổ) cho thấy có xuất hiện những yếu tố văn hoá Sa Huỳnh ở các mộ vò và đồ trang sức, trùm lên trên, muộn hơn. “Số lượng công cụ đá mài lớp mộ vò cho thấy sự xuất hiện hơi đột ngột từ biển vào (cư dân Nam Đảo – TG chú)”[2].

v     Sự ra đời của vương quốc cổ Chămpa

      Hoàn cảnh ra đời

            Ở giai đoạn của văn hoá Sa Huỳnh, trên địa bàn của nó nổi lên hai bộ lạc sinh sống: bộ lạc Cau và bộ lạc Dừa. Với trình độ phát triển của văn hoá Sa Huỳnh, cư dân ở đây đã đứng trước ngưỡng cửa của sự chuẩn bị thành lập nhà nước. Tuy nhiên, việc lập nước chưa thực hiện ngay được mà phải trải qua một quá trình lâu dài, vì lúc này trên lãnh thổ của cư dân Sa Huỳnh  đang bị Phong kiến phương Bắc đô hộ cùng với Âu Lạc ở Bắc Bộ.

            Năm 111 TCN, nhà Hán thay nhà Triệu thống trị Âu Lạc. Bên cạnh hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đã có từ trước, nhà Hán đặt thêm quận Nhật Nam (kéo dài từ Hoành Sơn đến Quang Nam) và chia Nhật Nam thành 5 huyện: Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lê Dung và Tượng Lâm.

            Tượng Lâm là huyện xa nhất về phía Nam trong các đất chiếm đóng của nhà Hán. Địa bàn của Tượng lâm tương đương với Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (tức là địa bàn của bộ lạc Dừa).

            Dưới ách thống trị của nhà Hán, nhân dân Nhật Nam nói chung và Tượng Lâm nói riêng đã nhiều lần nổi dậy chống lại: Năm 40 SCN, nhân dân Nhật Nam đã nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng; năm 100, 2.000 người dân Tượng Lâm đã nổi dậy đấu tranh; năm 136 - 137, nhân dân lại nổi dậy “đánh huyện Tượng Lâm, đốt phá thành trì, giết tù trưởng” (Theo Hậu Hán thư)…

            Như vậy là, trong thế kỉ II, nhân dân Nhật Nam nói chung và nhân dân huyện Tượng Lâm nói riêng đã liên tiếp nổi đậy khởi nghĩa. Những cuộc khởi nghĩa này luôn luôn có sự đồng tình, ủng hộ và thậm chí tham gia hưởng ứng của nhân dân Giao Chỉ và Cửu Chân. Đây là bước chuẩn bị, tập dượt quan trọng đưa đến thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Tượng Lâm những năm sau đó.

            Cuối thế kỉ II, đời Sơ Bình (190 - 193), Trung Quốc có biến, nhân dân huyện Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của Khu Liên[3] đã nổi dậy giết huyện

            lệnh, lập nước Quốc gia mới lập của dân Tượng Lâm trong một thời gian khá dài được các thư tịch cổ Trung Hoa gọi tên là Lâm Ấp

            Tên gọi Vương quốc Chămpa

            Trải qua gần 15 thế kỉ hình thành và phát triển, Vương quốc Chămpa đã có các tên gọi khác nhau:

             Lâm Ấp: Tên gọi đầu tiên của vương quốc này được ghi lại trong các thư tịch cổ Trung Hoa. Sách Thuỷ kinh chú có giải thích thêm: Lâm Ấp[4] là huyện Tượng Lâm, sau bỏ chữ “Tượng” gọi là Lâm Ấp.

             Hoàn Vương: tên gọi của nước Chămpa bắt đầu từ khoảng nửa sau thế kỉ VIII, sau khi vua Rudravarman mất (757).

            Theo Tân Đường thư, Hoàn Vương ra đời vào thời Đường Đức Tông (sau niên hiệu Trí Đức) (756 - 757) tức là sau năm 757.

            Cựu Đường thư lại ghi: “Tên Hoàn Vương xuất hiện vào năm Quý Dậu (793) đời Đường Đức Tông, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 9”.

            Như vậy, đối chiếu các sự kiện được ghi lại trong Tân Đường thư và Cự Đường thư thì có thể thấy thời điểm xuất hiện nước Hoàn Vương chênh lệch ± 35 năm. Tuy nhiên, hiện nay, giới sử học có bản chấp nhận thời điểm xuất hiện tên nước Hoàn Vương là vào năm 758[5].

            Một số nhà nghiên cứu đoán định chữ “Vương” trong quốc hiệu “Hoàn Vương” là một tước vị, tương đương với Lâm Ấp vương hay Phù Nam vương. Riêng từ “Hoàn” thì đến nay còn rất mơ hồ.  Nếu “Hoàn” là một từ Hán thì nghĩa đen của nó là cái vòng, hình vòng, hoặc có nghĩa trừu tượng hơn là khắp nơi, rộng lớn. Nếu như vậy, thì hẳn “Hoàn Vương” có ý nghĩa nhìn nhận vương triều ấy có phạm vi lãnh thổ rộng lớn hơn. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong nhiều giả thiết mà thôi[6].

            GS. Lương Ninh có cắt nghĩa tên gọi “Hoàn Vương” bằng một cách khác: Có một ông vua trẻ xưng vương và lập được nhiều chiến công. Một trong những chiến công lớn của ông là xây dựng được một cụm tháp ở địa phương vùng kinh đô, do đó, dân gian đã gọi ông là Vô tầng. Người Pháp phiên âm là Rođăm (= Vô tầng (ông vua trẻ)). Bản thân ông cũng tự xưng là vua của các vua. Và GS. Lương Ninh cho rằng có lẽ chữ “Hoàn Vương” bắt nguồn từ đây. “Hoàn” có nghĩa là hoàn cầu, toàn cầu. “Hoàn Vương” nghĩa là vua của các vua.

            Như vậy, hai cách giải thích trên tuy chưa thống nhất với nhau nhưng sự cắt nghĩa của cả hai cách đều nhằm chứng minh cho sự lớn mạnh và phát triển của vương quốc cổ Chămpa về các mặt tại thời điểm xuất hiện tên nước là “Hoàn Vương”.

             Chămpa:  tên gọi được tìm thấy qua bi kí của vua Sambhuvarman (595 - 692). Tên gọi này có thể lấy theo tên một loài hoa đẹp hoa Đại (Michelia Champaca Linnae), cũng có thể là cách gọi theo tên địa danh một vùng ở phía Bắc Ấn Độ và hạ lưu sông Hằng (Gahga),

             Chiêm Thành: Sau hơn một năm (758 - 875), nhà Đường lại đổi tên Hoàn Vương ra quốc hiệu Chiêm Thành, đúng vào khoảng thời gian vương triều Indrapura thay thế vương triều Panđuranga. Quốc hiệu ấy không phải là gốc Hán mà là gốc từ một chữ Phạn Champapura, phiên âm ra tiếng Hán Việt là Chiêm (Chămpa), Thành (pura). Vị vua đầu tiên của vương triều Indrapura cũng tự khẳng định mình là vua nước Chămpa, là vị vua tối cao của Chămpa. Đây cũng là một trong những cách giải thích khác về nguồn gốc tên Chămpa[7].

            Ngoài ra còn có các tên gọi khác dịch theo chữ Hán như: Chiêm Bất Lao, Chiêm Bà… Sách Tân Đường thư viết: “Chỗ vua ở gọi là Chiêm Thành, chỗ ở khác gọi là Tề, nước gọi là Bồng Bì Thế”[8].

            Một điều đáng lưu ý là sự thay đổi tên gọi của vương quốc cổ Chămpa không đơn giản là sự thay đổi từ quốc hiệu này sang quốc hiệu khác, mà là sự thay đổi tư một quốc gia này sang một quốc gia khác… là những mốc lớn trong quá trình phát triển, hoàn thiện của một quốc gia có tên gọi chung ngay từ đầu là Chămpa[9].

            Vị trí địa lý

            Trong các thư tịch cổ Trung Quốc đều nói đến vị trí của nước Chiêm Thành.

            Chẳng hạn, sách Chư phiên chú viết: “Chiêm Thành ở phía Đông, đường biển thông với Quảng Châu, phía Tây tiếp giáp Vân Nam, phía Nam đến Chân Lạp, phía Bắc giáp Giao Chỉ, thông với Ung Châu… Đất nước đó đông - tây 700 dặm, nam – bắc 3.000 dặm”[10].

            Căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu khác, có thể xác định rõ hơn như sau: Vương quốc Chămpa hình thành và phát triển trên dải ven biển miền Trung Việt Nam và một phần cao nguyên Trường Sơn, lúc lớn mạnh nhất trải dài tới sông Gianh.

            Phía Bắc đến sông Dinh  Hàm Tân.

            Phía Nam đến sông Pôkô và Đà Rằng.

            Phía Đông làm chủ vùng ven biển Đông với các dãy đảo gần bờ.

            2. Các thời kỳ phát triển của vương quốc Chămpa (thế kỉ II  X)

            Đây là thời kì sơ kì vương quốc, gồm ba giai đoạn sau:

v     Giai đoạn Sinhapura hay Gangaraja (thế kỉ II  750)

             Đây là thời kì tương đối yên ổn và hưng thịnh của vương quốc, trừ một vài lần bị Trung Quốc tấn công: quyền lực được tăng cường trên vùng lãnh thổ rộng lớn. Kinh đô bắt đầu được xây dựng mang tên Sinhapura (nghĩa là thành phố Sư tử). Một số nhà nghiên cứu cho rằng địa điểm Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam) ngày nay gắn với những dấu tích thành lũy, đền thờ và nhà ở là kinh đô của Vương triều Gangaraja.

v     Giai đoạn Virapura hay Panđaranga (750  850)

            Thời kì này kinh đô chuyển về miền Nam và  được đặt ở Panđuranga (Phan  Rang, tiếng Phạn là Paran) nhưng cũng có khi là Vihapura (Kinh thành Ánh sáng) ở Nha Trang.

            Trung tâm của kinh đô là khu vực hoàng cung và đền miếu, trong đó có một ngôi đền tháp lớn là Po Nagar (đền  thờ thần Uma - vợ thần Siva).

            Trong khoảng thời gian từ năm 750 đến năm 850, Chămpa tuy bị người Java 2 lần tấn công nhưng sau đó đã được phục hồi và còn đánh Chân Lạp, tấn công cả phủ An Nam của Trung Quốc. Tuy nhiên, thời kì này tồn tại không dài và chính quyền tan rã nhanh chóng.

v     Giai đoạn Inđrapura (850 - 982)

      Kinh đô mới là Inđrapura (Thành phố thờ thần Inđra - thần đứng đầu các vị thần của Ấn Độ trong giai đoạn sơ kì). Địa điểm của kinh đô mới là Đồng Dương - một nhánh sông Thu Bồn, cách Trà Kiệu khoảng 15m về phía Đông Nam.

      Thời kì này, Phật giáo đã phát triển khá mạnh, dù Ấn Độ giáo không bị bài xích, Vương quyền của Chămpa vẫn được tăng cường với việc 3 lần quân Chămpa tấn công vào phủ An Nam của nhà Đường và đánh bại quân xâm lược Chân Lạp trong lần đầu.

      Tuy nhiên, đến thế kỉ X, vua Chân Lạp lại kêu quân đến đánh phá miền Nam Chămpa, phá huỷ đền Ponagar. Điều này làm cho vương quốc suy yếu và dẫn đến chấm dứt thời kì Inđrapura vào khoảng năm 982 – 983.

      3. Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội         

v     Chính trị

      Chămpa là nhà nước quân chủ chuyên chế. Qua nhiều thế kỉ, có thể nói, quyền lực của vua Chăm đã được tăng cường đến mức chuyên chế, cực đoan. Nhà vua thể hiện cho sự cố kết các làng xã. Quyền lực của vua được tượng trưng bằng một cái lọng màu trắng mà không ai  được dùng. Vua có quyệt tuyệt đối đối với số ruộng đất trong nước và thần dân trong nước.

            Các thư tịch cổ Trung Quốc từ Tấn thư đến Nam Tề thư, đến Tùy thư, Cựu Đường thư đều miêu tả vua Chăm với những nét chung như sau: Vua thường đội mũ thiên quan hay mũ hoa bằng vàng, mặc áo cổ bối bạch diệp (một loại vải bông), có lúc mặc áo gấm, cổ đeo nhiều chuỗi ngọc như trang sức ở tượng Phật, cuộn tóc đuôi hoa; chân đi giày da. Hộ giá vua có các tùy tùng tay cầm cờ vải cát bối, thổi ốc, đánh trống. Nhân dân thấy vua thì phải quỳ xuống; tử đệ thị thần yết kiến vua chỉ phải vái nhưng không được tới gần[11].

            Dưới vua có hai chức quan lớn là Tây Na Bà Đế (có thể phiên âm từ chữ Phạn Senapati), tức người đứng đầu hàng ngũ quan võ và Tát Bà Đại Ca (Tapatica), có lẽ là người đứng đầu hàng quan văn. Dưới đó là các thuộc quan chia làm ba bậc, trong đó có 8 viên quan lại cao cấp chia nhau nắm giữ các việc hệ trọng, gọi là nội quan; tiếp đó là ngoại quan (có lẽ là quan địa phương) với 2 cấp là Phất La (trưởng quan) và Khả Luân (thứ quan)[12]. Về sau, hệ thống quan chức được hoàn chỉnh hơn, có thêm chức Tể tướng mà trong Đại Việt sử kí toàn thư gọi là Bố Để (hay Bố Đề), Tân đường thư của Trung Quốc gọi là Bà Man Địa (bắt nguồn từ chữ Adhipati).

            Ngoài ra còn có các tăng lữ Bàlamôn là người Ấn Độ, thường xuyên đảm nhiệm những chức sắc cao cấp về tôn giáo và có ảnh hưởng lớn về chính trị, văn hóa ở triều đình Chămpa.

            Nhà nước nước Chămpa không phải là một tổ chức liên hiệp vùng hành chính (bang) hay tộc người. Đây là vương quốc với những dòng vua nối tiếp nhau, mặc dù không có sự thiết lập phổ hệ liên tục theo dòng cha (do ở đây có chế độ mẫu hệ nên có trường hợp truyền  ngôi theo dòng mẹ)[13].

            Toàn bộ vương quốc Chămpa được chia thành những đơn vị hành chính lớn, nhỏ. Các thư tịch cổ Trung Hoa (như Tống sử) nói Chiêm Thành có 38 châu, 200 làng.

            Triều đình Chămpa có quân đội thường trực rất mạnh. Vệ binh có khoảng 5.000 người. Quân đội cả nước có đến 4 - 5 vạn người, gồm nhiều binh chủng (bộ binh, tượng binh, kị binh và thủy binh). Lực lượng quân đội của Vương quốc Chămpa có nhiệm vụ bảo vệ vua và quan lại, tham gia chống các thế lực bên ngoài. Khi đánh nhau, họ thường cưỡi voi, lấy mây làm áo giáp, huy động khoảng 1.000 voi, 400 ngựa cùng với thủy quân gồm nhiều thuyền chiến, sử dụng các loại vũ khí, như; gươm giáo, cung tên, nỏ tre tẩm thuốc độc.

v     Đời sống kinh tế xã hội

            Nông nghiệp là nền kinh tế chủ yếu của cư dân Chămpa,  mà trong đó, ruộng đất là nền tảng kinh tế quan trọng.

            Trên văn bia có kể tên nhiều loại ruộng Chăm như: ruộng trũng  (humaanatam), ruộng cao hay ruộng bậc thang (huma đanih), ruộng chua mặn  (huma masin). Ngoài ra, bia Mỹ Sơn còn nhắc đến các loại ruộng đất khác nhau như sinjob, santam, malik, malan… mà hiện nay chưa rõ là những ruộng gì. Ở Chămpa, sở hữu ruộng công làng xã về ruộng đất vẫn là chủ yếu.

            Lúa là cây lương thực chủ yếu ở Chămpa. Lúa được cấy theo hai mùa trong một năm: mùa thu trồng lúa trắng, mùa xuân trồng lúa đỏ.

            Người Chăm xưa đã kết hợp trồng lúa ở cả ruộng bậc thang và ruộng thấp (hiện nay còn thấy ở miền trung Việt Nam). Để trồng cấy ở ruộng thấp, họ đã đào nhiều kênh mương  để dẫn nước tưới. Việc sử dụng sức kéo trâu bò (theo Chư phiên chí) chắc chắn đã được người Chăm biết đến từ lâu.

            Bên cạnh lúa còn có các loại cây lương thực và cây ăn quả khác: “Ngũ cốc không có lúa mạch chỉ có lúa tẻ, kê, đay, đậu… Quả cây có các loại như sen, mía, chuối, dừa”[14]. Đặc biệt, người Chăm đã biết tuyển chọn và trồng cấy một số giống lúa tốt mà đã được biết đến rộng rãi ở cả nước ngoài. Theo Tống sử, Trung Quốc đã đem nhập và trồng phổ biến một thứ lúa ngắn ngày và có sản lượng cao gọi là lúa Chiêm Thành (lúa Chiêm). Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, việc làm ăn của cư dân Chămpa khá vất vả và thu hoạch chưa cao, có chăng cũng chỉ đủ cung cấp cho trong nước.

            Chămpa rất nổi tiếng với nhiều lâm sản của xứ nhiệt đới. Sách Ngũ đại sử kí có chép: “(Nước ấy) có thủy tỉ, sơn dương loài thú và chim lạ có tê, ngưu, công”[15]. Sách Chư phiên kí cũng ghi rằng: “Đất sản ra ngà voi, tiên hương, trầm hương, tốc hương, sáp ong”[16]

            Thủ công nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của cư dân Chăm, gồm có nhiều ngành, nghề phong phú, như nghề nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa, trồng bông, dệt vải cát bối, làm gốm, chế tác đá, kim khí, xây dựng, kim hoàn (chạm khắc vàng, bạc) tạc tượng. Nghề đóng thuyền, đúc thuyền, rèn sắt rất phát đạt, nhất là nghề rèn sắt. Như vậy, có thể  thấy, nền kinh  tế  Chămpa lấy sản xuất nông nghiệp làm nền tảng bên cạnh một số nghề thủ công khá phát triển. Tuy vậy, nền kinh tế đó còn ở tình trạng phát triển chưa cao, chưa có dấu hiệu của việc sử dụng tiền tệ và buôn bán với bên ngoài. Nhìn chung, đó là nền kinh tế mang tính tự cung, tự cấp.

            Xã hội Chăm đã có sự phân hóa, song sự phân hóa này chưa sâu sắc, chưa rõ ràng. Bản thân quan hệ sở hữu ruộng đất và điều kiện kinh tế của nhà nước Chămpa chưa tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành những cá nhân, gia tộc, dòng họ nổi bật hơn hẳn, với sự giàu  có và quyền thế lớn.

            Đơn vị xã hội cơ sở của nhà nước Chămpa là các làng, công xã (tiếng Phạn là Grama). Xã hội Chăm bao gồm các tầng lớp:

            - Quý tộc, quan lại, là những người có chức sắc phục vụ cho triều đình nhà vua từ trung ương đến địa phương. Tầng lớp này được vua ban hiện vật được miễn trừ mọi nghĩa vụ lao dịch.

            - Tăng lữ Bàlamôn là tầng lớp phụ trách các vấn đề tế lễ, tang ma, cưới hỏi của nhà nước, có ảnh hưởng khá lớn đến các công việc chính trị xã hội của đất nước.

            - Nông dân công xã là giai cấp giữ vai trò chủ yếu trong các ngành sản xuất cũng như trong xã hội.

            - Nô lệ  - tầng lớp xuất hiện ngay ở giai đoạn đầu của Vương quốc cổ Chămpa. Nguồn gốc của nô lệ (bi kí gọi chung là huhu) khá phong phú (tù binh, người phạm tội, được mua về, ở các đền miếu). Bên cạnh vịệc phục dịch quí tộc, quan  lại và ở các đền, nô lệ có khi cũng được sử dụng trong những công việc mà không huy động được nông dân công xã.

            Nhà nước Chămpa theo chế độ mẫu hệ, do đó, trong xã hội, tư tưởng khinh nam, quí  nữ được thịnh hành, ngay cả việc truyền  ngôi của nhà vua cũng không  theo dòng đích. Nhiều  tàn tích của chế độ mẫu hệ vẫn được duy trì cho đến nay.

            4. Văn hóa     

            Trước đây, nhiều học giả phương Tây cho rằng, Chămpa là một quốc gia Ấn Độ hoá. Sự thực là, không ai có thể phủ nhận được văn hoá Chămpa chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của văn hóa Ấn Độ. Tuy nhiên, trong những nét văn hoá của Chămpa vẫn có những yếu tố văn hoá bản địa. Người Chăm trong quá trình tiếp thu văn hóa Ấn Độ cũng đã có sự kế thừa, phát huy để sáng tạo ra nên văn hóa mang những nét đặc sắc của dân tộc mình.

v     Chữ viết, bi kí và lịch pháp

            Về chữ viết:

            Chữ Phạn (sancrit) - một thứ chữ của Ấn Độ đã được Chămpa sử dụng làm chữ viết chính thức cho mình. Trên cơ sở chữ Phạn, lấy nét cong của chữ Phạn, người Chămpa đã xây dựng thành một hệ thống văn tự Chiêm cổ để ghi chép tiếng nói của mình gồm 16 nguyên âm, 31 phụ âm và khoảng 32 dấu âm sắc và chính tả. Niên đại của chữ Chăm cổ sớm nhất, căn cứ trên minh văn Đông Yên là thế kỉ IV[17].

Chữ viết cổ của người Chăm

            Đây là một sáng tạo độc đáo nhưng việc sử dụng chúng hãy còn quá hạn chế, chủ yếu dùng để kể tên ruộng, nô lệ, đền thờ.

            - Bi kí, là những văn bia, ghi lại các sáng tác văn học viết trực tiếp, theo đúng nghĩa của nó, duy nhất của người Chăm còn lại cho đến ngày nay. Văn bia phản ánh ý tưởng của vua chúa và các quan lớn muốn trình bày, ghi nhớ công đức và sự nghiệp của mình. Hầu hết văn bia của Chăm được viết bằng chữ Phạn và viết một cách công thức, sử dụng các điền tích tôn giáo và văn học Ấn Độ để ca tụng thần thánh và vua chúa.

            - Lịch pháp: Ngườì Chăm đã sớm tiếp thu lịch của người Ấn Độ, từ đó họ biết dùng lịch và biết cách tính lịch. Không những thế, các học giả trong triều đình Chămpa bấy giờ đã nghiên cứu và tính khá thành thạo vị trí di chuyển theo thời gian của các hành tinh để định thời gian một cách chính xác[18].

v     Kiến trúc và điêu khắc

            Kiến trúc và điêu khắc của Chămpa rất phát triển mà vết tích là các đền tháp còn lại cũng như các bệ đá, phù điêu, ngẫu tượng trưng bày tại bảo tàng Chăm Đà Nẵng.

            Từ sự sùng tin Hinđu giáo, người Chăm đã xây dựng hàng trăm đền, tháp thờ thần Hinđu. Tháp Chăm được xây dựng theo mô hình tháp Ấn Độ, song nó nhỏ bé “tinh tế” và được “Chăm hóa”, thể hiện biểu trưng tôn giáo Ấn Độ. Tháp được xây dựng rải rác khắp nơi  và có những quần thể kiến trúc lớn. Trà Bàn (Bình Định), Mạn Sơn (Bình Định), Đồng Dương (Quảng Nam), Pônaga (Khánh Hoà)… Tiêu biểu trong số các di tích tháp Chăm là cụm di tích Mỹ Sơn[19], nằm ở vùng thung lũng chân núi xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, có khoảng 70 kiểu kiến trúc đền tháp lớn, nhỏ nằm quây quần quanh thung lũng.

Tháp Mỹ Sơn

Khu đền tháp Po Nagar

            Tượng trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa hầu hết đều là tượng thần. Tuy nhiên, trong một số trường hợp có thể tìm thấy ở đó tính chất hiện thực, sinh động, tươi tắn và duyên dáng. Chẳng hạn, tượng nữ thần Pacvati, thuộc thế kỉ thứ VIII, trông rất giống một người con gái bình thường, tươi tắn, với nụ cười mỉm, nét mặt thanh tú của người Nam Á, chẳng thua kém gì những pho tượng bán thân nổi tiếng trên thế giới. Hay như vũ nữ Trà Kiệu vừa rất cân đối, mềm mại, duyên dáng và đầy sức sống, chứ không quá thô cứng và nghiêm nghị như ở Campuchia hay Ấn Độ.

            Có thể nói, đền tháp và tượng đã thể hiện tài nghệ sáng tạo và độc đáo của các nghệ nhân Chăm thời xưa.

v     Âm nhạc và ca múa

            Đây là hai loại hình văn hoá nổi bật của Chămpa.

            Trong cả sinh hoạt cung đình và sinh hoạt dân gian của cộng đồng các hình thức ca múa nhạc đều khá phổ biến. Phù điêu và các thư tịch cổ cho biết về nhạc cụ Chămpa, như  đàn, cầm, đàn tỳ bà, địch, trống, sáo,… Hiện nay, chúng ta không được biết về những nhạc điệu ấy, cho biết nhạc của Chăm khá phong phú về thể loại, như: nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc đám cưới, đám tang,… Mỗi loại có những giai điệu khác nhau.

             Rất khó có thể hình dung xem múa Chăm cổ như thế nào nhưng có thể có nhiều kiểu múa: múa của vũ nữ ở cung đình, ở đền miếu, múa tập thể trong đám cưới, ngày hội. Qua các  tác phẩm: điêu khắc đá thời kì này chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh những vũ nữ đang múa với bàn tày dịu dàng, uyển chuyển.

Vũ nữ Trà Kiệu.

Vũ nữ Trà Kiệu

            Ca múa nhạc Chawm rất thịnh hành và phát triển nên trong Việt sử có nhắc tới sự kiện vua Lê Đại Hành và Lý Thái Tông khi đi đánh quân Chiêm Thành đã đem về các vũ nữ và thông qua đó nền nghệ thuật âm nhạc cung đình Chămpa đã đến được nước ta.

v     Tôn giáo và tín ngưỡng

            Ở buổi đầu lập quốc, khi chưa có riêng một hệ thống thần quyền, quí tộc Chămpa đã tiếp thu và sử dụng hệ thống thần quyền của Ấn Độ thông qua sự truyền bá của các tu sĩ đến đây. Người dân Chăm tôn thờ các vị thần sơ khai của người Ấn, đứng đầu là thần Inđra vị chủ của các thần.

            Họ cũng sùng bái các thần Ấn Giáo, tức bộ ba thần Brahman, Siva và Visnu. Trong đó quan trọng nhất là thần Siva. Điều đó được thể hiện rõ qua những lời cầu khấn, sự ưu tiên hình tượng Siva trên tượng phù điêu và ngẫu tượng Linga.

Ngẫu tượng Linga ở Mỹ Sơn

            Ngoài ra, người Chămpa còn tiếp thu đạo Phật phái Đại thừa. Một số vua của thời kì Vijaia vẫn cho dựng tượng Phật Quan âm (Buddhalokesvara) và thực hành dhamla (đạo) của Mahayana (Phật giáo Đại thừa). Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử Chămpa, Hinđu giáo, mà chủ yếu là Siva giáo có vị trí nổi bật hơn cả.

v     Phong tục tập quán

            Trong ứng xử xã hội: 

            Người Chăm giữ rất lâu một số phong tục của mình. Họ rất lễ phép, gặp nhau thường chắp tay vái lạy hay cúi đầu chào. Họ cũng có tục ăn trầu và nhuộm răng như người Việt. Do theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ Chăm luôn giữ vai trò cao trong xã hội, trong sản xuất và trong gia đình.

            Tục cưới hỏi:

            Trong hôn nhân, người con gái Chăm luôn chủ động và huyết thống được tính theo dòng mẹ. Vào ngày cưới, một thầy Bàlamôn dắt chàng rể đến gặp cô dâu. Hai bên nắm tay nhau, rồi mọi người cùng hô to chúc mừng sự tốt đẹp. Tục cưới hỏi như vậy đến nay vẫn còn tàn dư. Nhiều nơi vẫn giữ nghi lễ ăn cỗ bên nhà gái và con trai phải ở rể một thời gian.

            Tục ma chay:

            Người Chăm thường có tục hoả táng ở ngoài đồng, lấy tro xương chôn trong các mộ hoặc bỏ vào bình nhỏ đem thả xuống sông, liền cùng lúc đó con cháu đi đưa tiễn và khóc lóc thảm thiết.

            Tổ chức các tết lễ:

            Trong lễ thần của người Chăm thường có lễ tắm rửa cho tượng thần. Ngày lễ, dưới sự điều khiển của vị tăng lữ cao nhất, người ta đi vòng quanh tượng thần (thường là tượng linga), tưới nước thơm lên tượng, rồi hứng lấy nước đó để uống như ân huệ của ông bà tổ tiên…

            Như vậy, mặc dù chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Ấn Độ nhưng nhân dân Chămpa đã biết tiếp thu một cách sáng tạo để xây dựng nên nền văn hoá dân tộc độc đáo của mình với nhiều thành tựu phong phú và rực rỡ… Nói như GS. Trần Quốc Vượng: Sự Ấn Độ hóa ban đầu chỉ xảy ra ở lớp mặt của văn hóa (tôn giáo) và ở tầng lớp trên của xã hội.

 



[1] Lương Ninh: Vương quốc Champa, NXB ĐHQG, Hà Nội, 2006, tr8.

[2] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 15.

[3] Khu Liên (hay còn gọi là Khu Quỳ, Khu Đạt, Khu Vương). Chữ Quỳ và chữ Đạt viết hơi giống nhau nên Khu Liên có lẽ không phải là tên người mà có thể là sự chuyển âm ngôn ngữ cổ Đông Nam Á, Khu Liên tức Kurung, có nghĩa là tộc trưởng, vua.

[4] Có tác giả lại cho rằng đó là sự phiên âm tên tộc: Krom hay Prum hoặc Côn Lôn.

[5] Xin xem thêm: Phan An, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, Võ Sỹ Khải: Lịch sử Việt Nam (từ đầu đến năm 938), tập 3, NXB Trẻ, TPHCM, 2006, tr 241.

[6] Xin xem thêm: Phan An, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, Võ Sỹ Khải: Lịch sử Việt Nam (từ đầu đến năm 938), 2006, tr 249.

[7] Trên thực tế, tên Chămpa đã được tìm thấy trên bi kí từ thời vua Phạm Phàn Chí (Sambhuvarman) khoảng thế kỉ VI.

[8] Lương Ninh: Vương quốc Chămpa, Sđd, tr 385.

[9] Xin xem thêm: Phan An, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, Võ Sỹ Khải: Lịch sử Việt Nam (từ đầu đến năm 938), Sđd, tr 239 – 255.

[10] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 390.

[11] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 351 – 384.

[12] Theo Tùy thư, Trích trong Lương Ninh: Vương quốc Chămpa, Sđd, tr 376.

[13] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 154.

[14] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 391.

[15] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 388.

[16] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 391.

[17] Lương Ninh: Vương quốc Champa, Sđd, tr 181.

[18] Huỳnh Công Bá: Lịch sử Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế, 2004, tr 117.

[19] Nó được phát hiện bởi người Pháp năm 1885 và bắt đầu nghiên cứu từ năm 1895.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10)   Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ
Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938)
Nhà nước Lâm Ấp – Chăm Pa
Vương quốc Phù Nam
Tài liệu đọc thêm
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google