Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Những người được giải thưởng...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Thiên hà
Khoa học vũ trụ thế kỷ XXI
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Những người được giải thưởng...
Những giây phút đầu tiên
Những biện pháp phóng ngừa...
Lược sử tiến hóa loài người
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ 1858 đến 1930   Việt Nam từ 1897 đến năm 1918


I

Chính sách khai thác thuộc địa
lần thứ nhất của Pháp ở Việt Nam

Để củng cố nền thống trị ở Đông Dương thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách thâm độc.

1. Thiết lập bộ máy thống trị

Nhiều tên quan cai trị có năng lực như Doumer Klobukowski, Sarraut..., được cử sang làm toàn quyền ở Đông Dương nhằm nhanh chóng ổn định về chính trị bước đầu tổ chức khai thác tài nguyên của xứ sở này phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và cho cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa của đế quốc Pháp.

Thực hiện ý đồ biến Việt Nam và đông dương thành thuộc địa, ngày 17 tháng 10 năm 1887, chính phủ Pháp ra sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Lúc đầu Liên bang gồm 3 “kì” của Việt Nam và Cămpuchia, đến ngày 19-4-1899 sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

Cơ quan quyền lực cao nhất ở Đông Dương là Phủ toàn quyền, do viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu. Văn phòng phủ toàn quyền có 4 phòng: chính trị, hành chính, quân sự, nhân sự. Nhân viên cao cấp của các công sở này đều là người Pháp với số lượng hết sức đông đảo. Dưới phủ toàn quyền là các cơ quan cai trị hàng xứ, được tổ chức tùy theo đặc điểm từng nơi.

Tại Nam Kì, nơi mà Pháp áp dụng qui chế thuộc địa, có Phủ thống đốc, đứng đầu là thống đốc có khi còn gọi là phó toàn quyền. Nam kì được chia thành 20 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đứng đầu mỗi tỉnh có Công sứ Pháp. Giúp việc cho Công sứ có Phó công sứ các viên chức người Pháp và một số viên chức người Việt. Có một hội đồng hàng tỉnh gồm các đại diện kì hào người Việt chỉ họp khi cần thông qua ngân sách hàng tỉnh và cũng chỉ làm chức năng tư vấn. Hệ thống quan lại Nam Triều ở nam kì đã bị bãi bỏ từ lâu. Đơn vị cai trị dưới tỉnh là phủ, huyện, có tri phủ, tri huyện hoặc đốc phủ sứ đứng đầu. Đơn vị hành chính cấp cơ sở là làng xã. Tại đây, tổ chức cai trị Nam Triều được bảo tồn gần như nguyên vẹn.

Bắc Kì là xứ nửa bào hộ. Cơ quan cai trị cao nhất là Phủ thống sứ, do thống sứ người Pháp đứng đầu. Giúp việc cho thống sứ là hội đồng bảo hộ Bắc Kì. Bắc kì được chia thành 26 tỉnh. Đứng đầu các tỉnh ở Bắc Kì là công sứ Pháp và các cơ quan giúp việc giống như Nam Kì. Bên cạnh cơ quan cai trị của người Pháp. Cấp tỉnh ở Bắc Kì còn có quan lại cũ của Nam triều như Tổng đốc (tỉnh lớn); Tuần phủ (tỉnh nhỏ); án sát coi việc hình; Bố chánh trông coi việc thuế. Lãnh binh hoặc đề đốc coi việc binh, nhưng chỉ đóng vai thừa hành theo quyết định của tòa công sứ Pháp. Dưới tỉnh là phủ, huyện, đạo, châu (Miền núi do tri phủ, tri huyện, tri châu (người Việt) cai quản dưới quyền công sứ. Đơn vị cai trị cơ sở là tổng xã. Ở tổng có Chánh, Phó tổng (viên chức trung gian trông coi đôn đốc một vài xã), còn cai trị ở cấp xã là hội đồng kì hào với một số chức dịch thừa hành, chủ yếu là lí trưởng.

Trung Kì là xứ bảo hộ. Ở đây vẫn tồn tại triều đình Huế nhưng chỉ đóng vai trò bù nhìn. Cơ quan cai trị của Pháp ở Trung Kì thường được gọi là tòa Khâm sứ, do Khâm sứ Pháp đứng đầu. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trung Kì được chia thành 14 đơn vị hành chính hàng tỉnh. Mỗi tỉnh đều có bộ máy quan lại Nam triều điều hành, song mọi việc đều do toà Công sứ quyết định. Riêng một số phủ, huyện, tỉnh, thành phố quan trọng thì quan Pháp trực tiếp cai trị, như Bái Thượng (Thanh Hoá), Phủ Quỳ (Nghệ An), Đà Nẵng, Đà Lạt.

Ở mỗi kì Việt Nam, ngoài các quan chức, các hội đồng giúp việc, còn có các nha, sở trực thuộc thống sứ. Để nuôi bộ máy đồ sộ và cồng kềnh này, trong mỗi xứ, thực dân Pháp lập ra một ngân sách riêng, góp bằng thuế đinh và thuế điền (trực thu).

Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, bộ máy chính quyền đó có đôi chút thay đổi cho phù hợp với tình hình mới nhằm lừa bịp nhân dân Việt Nam, song về cơ bản nó được duy trì cho mãi đến năm 1945.

2. Khai thác, bóc lột về kinh tế

 Là một nước có khí hậu nhiệt đới, lại ở xa chính quốc nên Việt Nam được chính quyền thực dân Pháp đặt vào danh mục những thuộc địa khai thác (chứ không phải là thuộc địa di dân như Algérie).

Đường lối mà người Pháp qui định cho toàn bộ quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho đến năm 1945 là:

- Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp. Nền sản xuất ở thuộc địa này chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu hay những vật phẩm mà nước Pháp không có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc chứ không được làm tổn hại nền công nghiệp chính quốc.

Đường lối này được thực hiện triệt để trong đợt khai thác thuộc địa vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX trên những lĩnh vực kinh tế.

Về nông nghiệp

Nền tảng kinh tế của nhân dân việt Nam lúc bấy giờ vẫn là kinh tế nông nghiệp phong kiến. Nông dân nghèo sống dưới ách bóc lột bằng tô tức của giai cấp địa chủ.

Chính quyền thực dân không chỉ duy trì nguyên vẹn chế độ bóc lột kiểu phong kiến mà còn ra sức tước đoạt ruộng đất của nông dân bằng những thủ đoạn vô cùng trắng trợn và được hợp pháp hóa bằng những điều ước, nghị định, do nhà cầm quyền thực dân cấu kết với bọn phong kiến bản địa đặt ra.

Sau cuộc chinh phục bằng quân sự, ruộng đất các sở đồn điền cũ cũng như ruộng đất công tư, bỏ hoang trong chiến tranh đều bị chính quyền thực dân chiếm lấy để cấp cho bọn thân hào phản quốc. Năm 1897, triều đình Huế ký điều ước nhường cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Ngày 1-5-1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến.

Ngoài địa chủ Pháp,Việt Nam, nhà thờ giáo hội thiên chúa càng được Pháp bênh vực, ra sức bao chiếm ruộng đất của nông dân. Chỉ riêng Nam Kì, giáo hội đã chiếm một diện tích cày cấy rộng lớn. Ở Bắc Kì tính đến năm 1902, Pháp đã chiếm 182.000 héc ta đất trong đó có 50.000 héc ta ở các vùng trù phú nhất.

Sau khi chiếm đất, thực dân Pháp chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp bóc lột nông dân theo kiểu phát canh thu tô. Một số tư bản thực dân có kinh doanh trong những sở đồn điền mới theo lối tư bản chủ nghĩa, nhưng số này ít, chủ yếu là nhằm bóc lột nhân công rẻ mạt. Đời sống của người nông dân và nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng sa sút.

Công nghiệp

Thực dân Pháp coi trọng công nghiệp hơn nông nghiệp. Tuy được coi trọng hơn, nhưng không có nghĩa là tư bản Pháp để cho công nghiệp Việt Nam được phát triển tự do mà vẫn tìm cách khống chế. Chỉ có ngành công nghiệp khai thác than và quặng không bị chính quyền thực dân hạn chế, vì nó nhanh chóng đem lại lợi nhuận và chỉ bổ sung chứ không lâm tổn hại cho công nghiệp chính quốc phát triển. Do đó, ngoài than, nhiều mỏ kim loại cũng được đẩy mạnh khai thác từ năm 1903, như thiếc, kẽm, sắt, bạc, vàng, thủy ngân, phốt phát...

Sau công nghiệp khai thác than, quặng là ngành sản xuất xi măng, gạch, ngói, điện, nước, chế biến nông lâm sản, như chế biến gỗ, xay xát gạo, sản xuất giấy diêm, rượu, đường, vải sợi... Phần lớn các xí nghiệp công nghiệp này đều nằm trong tay những tập đoàn tư bản lớn, có trụ sở ở Pháp. Phương thức hoạt động là tận dụng nhân công lao động rẽ mạt, sao cho chi phí sản xuất giảm xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.

Về thương nghiệp

Để độc chiếm thị trường Việt Nam, ngay từ năm 1887 thực dân Pháp đã sử dụng chính sách thuế quan để chống lại sự cạnh tranh của các thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều. Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chỉ phải đóng 2,5%, trong khi hàng của các nước khác nhập vào Việt Nam phải đóng thuế từ 25% đến 120%.

Tất cả hàng hóa Việt Nam mà Pháp cần đều phải dành riêng cho Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác, những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các nước khác thì Việt Nam vẫn phải mua của Pháp.

Công thương nghiệp của người bản xứ thì vẫn là công thương nghiệp lạc hậu trong khuôn khổ chế độ phong kiến - trong khi đó, độc quyền thương mại của thực dân Pháp được biến thành phương tiện để bần cùng hóa nhân dân lao động Việt Nam, bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa và phong kiến, cũng như sự dung dưỡng của thực dân đối với giai cấp địa chủ Việt Nam, biến chúng thành tay sai, đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa công thương nghiệp cổ truyền và công thương nghiệp dân tộc với quyền lợi của bọn thực dân và giai cấp địa chủ. “... kinh tế địa chủ và kinh tế thực dân cùng nhau đối lập với công thương nghiệp dân tộc Việt Nam cũng như nông nghiệp, tức là đối lập với toàn bộ nền sản xuất quốc dân.”[1]

Về giao thông vận tải

Chương trình khai thác của Paul Doumer đã đặt kế hoạch tăng cường hệ thống giao thông vận tải phục vụ cho việc vơ vét tài nguyên và vận chuyển binh lính kịp thời đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.

Đường bộ được mở đến các khu vực đồn điền; ngoài trục đường xuyên Đông Dương, chúng còn gấp rút xây dựng các tuyến đường hàng tỉnh vươn tới những nơi xa xôi hẻo lánh vùng biên giới. Vào đầu thế kỉ XX, tổng số đường hàng tỉnh là 20.000km; với 14.000km đường dây điện thoại.

Đường thủy ven biển và theo các kênh rạch ở Nam Kì được khai thác. Năm 1914, tàu máy hơi nước đã khá phổ biến.

Đường sắt Hà Nội - Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn được gấp rút xây dựng vào cuối thế kỉ XIX. Năm 1912, hệ thống đường sắt ở Việt Nam được hình thành với tổng chiều dài 2059 km. Tuy vậy tàu hỏa vẫn là một phương tiện vận tải xa xỉ và đắt tiền đối với đông đảo nhân dân lao động lúc bấy giờ.

Cùng với việc xây dựng các tuyến đường bộ, đường sắt, các cây cầu lớn như cầu Long Biên ở Hà Nội (cầu Doumer) Cầu Tràng Tiền thuế; cầu Rạch Sỏi ở Nam Kì..., các bến cảng, nhà ga mọc lên nhiều nơi.

Về tài chính

Điểm nổi bật trong toàn bộ các chính sách về tài chính của thực dân Pháp là chính sách sưu thuế, trong đó có thuế trực thu và giản thu. Các loại thuế cũ đều tăng vọt, rất nhiều thứ thuế mới được đặt ra. Kết quả của việc tăng thuế là làm cho ngân sách Đông Dương tăng lên một cách đáng kể; trong khi đó, đời sống của nhân dân ngày càng điêu đứng.

Tính chung cả thuế giản thu và thuế trực thu thì từ sau khi Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương, nhân dân Việt Nam phải nai lưng đóng góp hơn 90 triệu frăng vàng. Nếu đem so với số thuế thu của triều đình Huế trước năm 1858, thì thấy rõ ràng mức độ bóc lột, vơ vét của thực dân Pháp là vô cùng to lớn.

Chính sách khai thác thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp rõ ràng là một chính sách cướp bóc trắng trợn của chủ nghĩa đế quốc bằng phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp chặt chẽ với các hình thức bóc lột dã man thời trung cổ.

3. Tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát tòa án và nhà tù

Việc tăng cường lực lượng vũ trang cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là công việc cấp bách, vì tình hình quốc tế lúc này đang diễn ra phức tạp. Mâu thuẫn đế quốc ngày một căng thẳng, thuộc địa Đông Dương của Pháp đang bị nhiều nước, trước hết là Anh, Đức, Nhật ra sức nhòm ngó. Đồng thời, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, tuy đã bị dập tắt vào năm 1897, chuẩn bị bùng lên trong những năm đầu thế kỉ XX, dưới tác động của trào lưu “thức tỉnh” châu Á.

Năm 1904 - Tổng thống pháp ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kì và Trung Kì đi lính. Ngoài quân đội chính qui, thực dân Pháp còn tổ chức đội lính khố xanh (1897), được dùng để đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, canh gác, phục vụ các đạo quan binh... Tại các phủ huyện, có lính cơ, lính lệ. Các làng xã có tuần phu - lực lượng bán vũ trang dưới quyền điều khiển của Trương tuần hay Lý trưởng.

Đi đôi với bộ máy quân sự to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệt cùng hệ thống tòa án và nhà tù dày đặc khắp Việt Nam.

4. Nô dịch về văn hóa

Để duy trì địa vị thống trị và bóc lột việt Nam thực dân Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn để xoá bỏ tinh thần dân tộc và truyền thống bất khuất của dân tộc ta, trong đó có những thủ đoạn về văn hóa, giáo dục. Kể từ khi Paul Doumer sang làm Toàn quyền (1897), đường lối giáo dục của Pháp nhằm những mục tiêu chủ yếu sau:

1. Đào tạo một lớp người bản xứ có trình độ học vấn vừa đủ để làm kẻ thừa hành trung thành và tận tụy với “mẫu quốc”.

2. Triệt để khai thác nội dung và hình thức của nền giáo dục phong kiến lạc hậu.

3. Về mặt tổ chức, có sự kết hợp giữa trường học cũ với các loại trường học mới

Để đạt được những mục tiêu trên đây, chính quyền thực dân ở Việt Nam cho mở hai hệ thống trường học: trường Hán học có cải tổ đôi chút và hệ thống trường Pháp - Việt. Trường Hán học chỉ duy trì tạm thời, sẽ được thay thế bằng trường Pháp - Việt trên cả nước. Tuy vậy, trong cả ba kì của Việt Nam, tính đến năm 1906 mới chỉ có 25 trường học tiểu học Pháp - Việt và tính đến hết năm 1913 mới chỉ có 10 vạn học sinh các cấp (trong tổng số 20 triệu dân lúc bấy giờ). Sự phát triển giáo dục cũng không đều khắp.

Tất cả các vùng miền núi đều không có trường học. Tỉnh lỵ Sơn La mãi đến 1917 mới có 1 trường sơ học.

Sự hạn chế giáo dục là một nội dung của “Chính sách ngu dân” mà thực dân Pháp dùng ở Việt Nam nhằm “làm cho dân ngu để dễ trị”.[2]

Trong khi nhỏ giọt thực hiện các chính sách gọi là “mở mang”, “khai hóa” cho xứ thuộc địa, thực dân Pháp còn thực hiện một chính sách phản động về văn hóa, nhằm hủy hoại nòi giống Vịệt Nam, gieo rắc tư tưởng tự ti trong nhân dân, duy trì nếp sống lạc hậu và truyền bá một nếp sống tư sản phương tây không kém phân hủ bại.

Những thói hư tật xấu của xã hội cũ được dung dưỡng. Cờ bạc không những không bị cấm đoán mà còn được khuyến khích. Báo chí được sử dụng như là một công cụ đặc biệt nhằm làm thui chột mầm mống cách mạng trong nhân dân. “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”.



[1] Dẫn theo Văn Tân: Lịch sử cách mệnh cận đại Việt Nam. Tr 67.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. HN, 1996, tr.99

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ 1858 đến 1930   Việt Nam từ 1897 đến năm 1918
Giới thiệu
Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp ở Việt Nam
Những biến chuyển của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX
Phan Bội Châu với phong trào Đông Du
Phan Chu Trinh và phong trào Đông Du
Phong trào chống sưu thuế ở Trung Kì 1908
Đông Kinh Nghĩa Thục
Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google