Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Sự hình thành các lục địa và...
Tính tuổi của trái đất
Các nhân tố chi phối sự hình...
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Những giây phút đầu tiên
Sự tìm kiến những hành tinh...
Du hành trong dải ngân hà
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Buổi đầu độc lập


Đất nước thời Ngô-Đinh-Tiền Lê

Đất nước thời Ngô – Đinh - Tiền Lê.

Chiến thắng to lớn trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đă chấm dứt hơn 1000 năm đất nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chế độ Tiết độ sứ, xây dựng triều đình mới, lấy Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) làm kinh đô, dựng cung điện. Bộ máy nhà nước quân chủ đầu tiên có chức quan văn, võ, có qui định nghi lễ, phẩm phục, đặt cơ sở cho các nhà nước quân chủ sau đó. Mặc dù tổ chức nhà nước còn đơn giản, nhưng nó đă thể hiện chính quyền của một đất nước độc lập tự chủ để xây dựng kinh tế xã hội. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đă viết Tiền Ngô (vương) nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được qui mô của bậc đế vương([1]) 

1. Tổ chức chính trị

Ở địa phương các châu, huyện vẫn giữ nguyên. Các làng, giáp là những đơn vị hành chính cơ sở. Bên cạnh làng giáp cổ truyền còn có một số làng mới được. hình thành và một số trang trại. Chủ của các trang trại có thể là quan chức cũ của chính quyền đô hộ, ở lại lập nghiệp lâu dài trên đất nước ta, hoặc các thổ hào địa phương.

Mặc dù trải qua hơn 30 năm độc lập với hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhưng những tàn dư của chế độ đô hộ còn vẫn còn nhiều, tình hình xã hội còn phức tạp. Sự thành lập nhá Ngô, đứng đầu là Ngô Quyền chưa đủ điều kiện để giữ vững sự ổn định lâu dài.

Vì vậy đến năm 944, Ngô Quyền mất, em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi, dẫn tới những mâu thuẫn nảy sinh trong dòng họ thống trị này. Tình hình đó đã tạo điều kiện cho các thổ hào địa phương nổi dậy, đất nước rơi vào cảnh loạn 12 sứ quân.

Đứng trước tình hình đất nước rối loạn, Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp các sứ quân và thống nhất đất nước. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế (tức Đinh Tiên Hoàng), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 970, Đinh Bộ Lĩnh bỏ không dùng niên hiệu nhà Tống, tự đặt niên hiệu ([2]) là Thái Bình cho đúc tiền và sai sứ sang giao hảo với nhà Tống.

Đinh Tiên Hoàng giao cho con nhỏ Hạng Lang làm thái tử, con thứ Đinh Toàn làm Vệ Vương, con cả Đinh Liễn làm Nam Việt Vương. Bên cạnh đó là hàng ngũ quan văn, võ và tăng đạo. Trong bộ máy nhà nước còn có các chức quan cai quản về Tôn giáo. Cuối năm 979, ở một bữa tiệc rượu trong cung của hai cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị viên quan hầu tên là Đỗ Thích ám hại.

Đinh Toàn còn nhỏ (5-6) tuổi được đưa lên lối ngôi, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được cử làm phụ chính. Các tướng cũ của Đinh Tiên Hoàng đưa quân về định giết chết Lê Hoàn, vì nghi ngờ ông có ý cướp ngôi, nhưng đã bị đánh bại.

Vào năm Canh Thìn (980), nghe tin Đinh Tiên Hoàng mất, Đinh Toàn mới lên ngôi, còn nhỏ tuổi, nội tình rối loạn, nhà Tống bên Trung Quốc thừa cơ muốn sang cướp nước ta.

Được tin quân Tống chuẩn bị chiếm nước ta, Thái hậu họ Dương – mẹ đẻ của Đinh Toàn – đã quyết định trao ngôi vua cho Lê Hoàn để đối phó với quân xâm lược, bảo vệ đất nước. Lê Hoàn lên ngôi xưng là Đại Hành hoàng đế (tức Lê Đại Hành) đổi niên hiệu là Thiên Phúc lập triều Lê (Tiền Lê). Cuộc kháng chiến chống quân Tống thắng lợi, nhân ngày lễ mừng công, Lê Hoàn đã tôn Dương Thái Hậu là Đại Thắng Minh Hoàng hậu. Lê Đại Hành giữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước của thời Đinh với kinh đô Hoa Lư.

 

Đền thờ vua Đinh

Triều đình trung ương do vua đứng đầu, nắm mọi quyền hành về dân sự cũng như quân sự. Dưới vua là các chức quan văn, võ, hầu hết là những người đã có công phò tá nhà vua lên ngôi.

Hệ thống các đơn vị hành chính và chính quyền địa phương cũng được tổ chức đấy đủ. Ban đầu cả nước được phân chia thành 10 đạo. Năm 1002, Lê Hoàn đổi đạo thành lộ; dưới có phủ; châu. Các lộ, châu đều có Quản giáp, Thứ sử, Trấn tường…trông coi. Thời Tiền Lê, để bảo vệ quyền lực của dòng họ, nhà vua đã cử các hoàng tử trông coi các châu về tất cả các mặt. Trừ các nhà sư, quan lại trong ngoài hầu hết là võ tướng.

Nhà Đinh - Tiền Lê rất chú trọng xây dựng quân đội. Ở kinh thành có một đạo cấm quân gồm khoảng 3000 người. Đạo quân này chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ hoàng thành và các vua quan. Bên cạnh đó còn có một đạo quân canh giữ các cổng thành.

Chế độ “ngụ binh ư nông”([3]) được thực hiện để nhà nước có được một lực lượng quân sự lớn khi cần. Lực lượng này gồm 10 lữ, mỗi lữ gồm 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Nếu đúng như vậy, nhà Đinh -Tiền Lê đã từng có đến 100 vạn quân. Quân sĩ đều được trang bị đầy đủ. Với các tướng lĩnh có nhiều kinh nghiệm, quân đội của nhà Đinh - Tiền Lê đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh đất nước và chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ đất nước.

Những hành động chống lại nhà nước trung ương, phá hoại trật tự an ninh xã hội... đều bị trừng trị nặng. Luật pháp thành văn chưa có điều kiện biên soạn. Sử cũ ghi lại: “Vua (chỉ Đinh Tiên Hoàng) muốn lấy uy thế để ngự trị thiên hạ mới đặt vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: người nào trái phép sẽ phải chịu tội bỏ vào vạc dầu nấu hay cho hổ ăn. Mọi người sợ phục không dám trái”([4]). Thời Tiền Lê, nhà vua thường tuỳ tiện xét xử. Theo sử nhà Tống là Tống Cảo, bấy giờ, “tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100 đến 200 roi, bọn giúp việc ai hơi có điều gì trái ý cũng đánh 30 hay 50 roi, truất làm tên gác cổng khi hết giận lại gọi về làm chức cũ”. Năm 1002, vua Lê. “định luật lệnh”, nhưng sách cũ không còn nên không có thông tin cụ thể. Theo nhà sử học Phan Huy Chú thế kỷ XIX. “Thời cổ làm việc chỉ có qui chế, không dùng hình luật vì đời thuần, phép giảm có thể châm chước tuỳ nghi được” ([5]). Những điều trên có thể hiểu rằng, bấy giờ hình pháp nói chung hà khắc, việc xét xử ở trung ương chủ yếu do vua định đoạt, còn ở địa phương thì do các quan trông coi quyết định. Luật theo tập quản còn thịnh hành.

Việc tuyển chọn quan lại thời đó chưa có chế độ cụ thể. Các võ tướng đă từng tham gia cuộc đánh dẹp các sứ quân hoặc hoàng tử là những người nắm quyền chủ yếu. Về sau một số văn thân cũng được cất nhắc lên giữ các vị trí thân cận với vua, thay dần các vị sư giỏi. Nhà nước cũng bước đầu phong cấp bổng lộc suốt đời.

Nhìn chung, qua những nội dung trên cho chúng ta thấy rằng, tổ chức nhà nước thời Ngô - Đinh - Tiền Lê còn rất đơn giản. Tuy vậy, nó đă thể hiện một bước tiến quan trọng trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc. Đây cũng là sự quá độ bước sang một thời kì phát triển ổn định của chế độ phong kiến ở nước ta.

2. Tình hình kinh tế, xã hội

Thời kỳ này nước ta là một nước thuần nông nghiệp. Những năm dưới thời họ Khúc, họ Ngô, do tác động của các cuộc chiến tranh hoặc tranh chấp nội bộ, nhà nước không cỏ điều kiện xây dựng một nên kinh tế độc lập. Thời Đinh, Tiền lê đã đặt lệ phân cấp đất cho người có công.

Lê Hoàn còn sử dụng một số vùng đất đă tịch thu được của các sứ quân để làm ruộng tịch điền, phục vụ nghi lễ khuyến khích sản xuất nông nghiệp và lấy thóc lúa đưa vào kho nhà nước, như vùng Bố Hải Khẩu (Thái Bình), đất lập nghiệp cũ của sứ quân Trần Lãm, vùng Đỗ Động (Quốc Oai – Hà Tây) của sứ quân Đỗ Cảnh Thạc…Các vùng đất này đều do những người bị tù tội hay nông dân làm nghĩa vụ lao dịch cày cấy, toàn bộ thu hoạch thuộc về nhà nước.

Ngoài các bộ phận ruộng đất kể trên, còn lại tuyệt đại bộ phận ruộng đất nhà nước giao cho các giáp, xã quản lí. Nhân dân trong giáp, xã theo tập tục chia ruộng đều cho nhau để cày cấy và hàng năm nộp thuế cho nhà nước. Những làng mới được thành lập do khai hoang cũng phân chia ruộng đất theo cách đó. Bên cạnh đó, ở một số nơi vẫn tồn tại những trang trại của con cháu các viên quan đô hộ cũ thời Đường hoặc các thổ hào địa phương. Rải rác ở một số nơi đă xuất hiện ruộng đất tư hữu nhưng tỉ lệ này không nhiều.

Nhà nước cũng quan tâm nhiều hơn đến nông nghiệp. Lê Hoàn là người đầu tiên đã tổ chức lễ cày ruộng tịch điền. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua thường đích thân làm lễ tịch điền, cày vài đường tượng trưng để nêu gương, động viên, khuyến khích sản xuất. Nhà Lê cũng chú ý đào vét sông, kênh để phục vụ việc lưu thông và phục vụ sản xuất nông nghiệp.Ví như, năm 1003 Lê Hoàn sai quân dân nạo vét kênh Đa Cái (Hoa Cái - Nghệ An), năm 1009. Lê Long Đĩnh cho phép quân dân Ái Châu (Thanh Hóa) đắp đường, đào kênh ở vùng mình..

Chính sự khuyến khích của Nhà nước và sự nỗ lực của nhân dân đă làm cho nông nghiệp ngày càng ổn định và bước đầu phát triển. Theo sử sách, mùa lúa các năm 987, 989 đều tốt.

Việc phát triển thủ công nghiệp thời trước, các ngành nghề thủ công thời Đinh Tiền cũng ngày càng mở rộng hoạt động. 

Nhà nước Đinh - Tiền Lê đă cho xây dựng một số quan xưởng ([6]) chuyên sản xuất các sản phẩm thủ công cần thiết. Những xưởng đúc tiền, rèn vũ khí, may mũ áo…được hình thành. Việc xây dựng cung điện, nhà cửa chùa chiền được quan tâm.  

Sử cũ đã ghi chép về kinh đô Hoa Lư “ Có điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu; phía Đông là điện Phong lưu; phía Tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực lạc”, ngoài ra còn có “Lầu Đại Vân; điện Trường Xuân, điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc…” xung quanh kinh thành có tường thành hoặc xây bằng gạch, hoặc đắp bằng đất đá…Trong thành còn có một số ngôi chùa như chùa Nhất Trụ, các kho vũ khí…Những điều đó chứng tỏ nghề thủ công (luyện kim, sản xuất gạch, ngói…) được mở rộng.

Trong nhân dân, các nghề thủ công cổ truyền như kéo tơ, dệt lụa, làm đồ gốm, rèn sắt, đục đồng, làm giấy đều phát triển. Nhà nước đã từng dùng các sản phẩm thủ công nghiệp nhân dân để làm cống phẩm. Nghề đóng thuyền, làm đồ vàng bạc xuất hiện ở nhiều nơi và trình độ kỹ thuật ngày càng được nâng cao. Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy các hoạt động thương nghiệp. Thời kỳ này, việc trao đổi buôn bán giữa các miền khá thường xuyên. Chợ búa mọc lên ở nhiều nơi. Từ đầu thời Đinh, nhà nước đã cho đúc tiền “Thái Bình”, năm 984, vua Lê lại cho đúc tiền “Thiên Phúc”…không chỉ khảng định ý  thức làm chủ đất nước của mình, mà còn góp phần vào việc phát triển thương nghiệp. Các trung tâm buôn bán được hình thành như Hoa Lư, Long Biên, Đại La, Luy Lâu... Nhà nước đã chú ý tới sửa chữa đắp mới các đường sá nối liền kinh Đô với vùng phía Nam và phía Bắc.

Những con đường sông, đường bộ này được xây dựng đã góp phần mở rộng việc buôn bán trao đổi giữa các vùng.

Từ năm 976, thuyền buôn nước ngoài đã đến xin buôn bán với nước ta. Năm 1009, Lê Long Đĩnh xin đặt quan hệ buôn bán với nhà Tống, được nhà Tống cho thông thương với châu Liêm và trấn Như Hồng (thuộc Nam Quảng Tây, Quảng Đông). Điều đó chứng tỏ việc trao đổi, buôn bán với nước ngoài cũng được mở mang.

Đa số nông dân là những người dân tự do, cày ruộng công làng xã, có quyền lợi gắn bó với làng nước. Dưới thời Đinh - Tiền Lê, sống trong điều kiện hoà bình, xã hội ổn định, nông dân đă phát triển sản xuất, vừa để sống họ vừa có thóc lúa nộp thuế cho nhà nước hay các quan chức, chủ ấp. Đời sống của nông dân ổn định.

Thời Đinh - Tiền Lê, thủ công nghiệp tiếp tục được mở mang, vì vậy tầng lớp thợ thủ công cũng ngày càng nhiều.

Nô tì, là những người đầy tớ phục dịch trong nhà hay trong điền trang thái ấp của các gia đình quan lại, quý tộc. Số lượng nô tì thời này không nhiều, nhưng là tầng lớp dưới cùng của xã hội.

Công cuộc phát triển kinh tế của các triều đại đầu tiên mới là bước đầu, nhưng đã đạt được một số thành quả nhất định. Chính việc phát triển kinh tế từ nông nghiệp đến công thương nghiệp khá đều đặn và đa dạng cùng với sự ổn định xã hội đã tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố nhà nước trung ương tập quyền và bảo đảm sức chiến đầu chống ngoại xâm.



[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.198

[2] Niên hiệu là tên hiệu của Vua đang cầm quyền, dùng để ghi trên sổ sách, giấy tờ và xác định thời gian. Mỗi niên  hiệu đều tương ứng với những năm, tháng nhất định

[3] Ngụ binh ư nông: Cho binh lính luân phiên nhau về làm ruộng ở làng xã lúc thời bình, lúc có chiến tranh, sẽ huy động tất cả đi chiến đấu.

[4] Đại Việt sử ký toàn thư, T2, HN.1972, tr.159

[5] Lịch triều hiến chương loại chí, T.3. Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, tr.94.

[6] Xưởng thủ công nhà nước

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Buổi đầu độc lập
Buổi đầu độc lập
Đất nước thời Ngô – Đinh - Tiền Lê.
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân
Lê Hoàn với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Cố đô Hoa Lư
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google