Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Những số liệu chủ yếu
Sự hình thành các lục địa và...
Thiên hà
Một số dạng vượn - người và...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Những biện pháp phóng ngừa...
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Một sự kiện hiếm có: những...
Bối cảnh xuất hiện của con người
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Buổi đầu độc lập


Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân

Loạn 12 sứ quân ở thế kỉ X có nguyên nhân sâu xa từ quá trình phân hóa xã hội thời Bắc Thuộc, dẫn đến việc xuất hiện tầng lớp thổ hào, quan lại có thế lực mạnh về kinh tế, chính trị. Đó là mầm mống của tình trạng phân tán, cát cứ. 

1. Tình trạng cát cứ địa phương.

Sau khi đánh bại quân xâm lược Nam Hán (938), Ngô Quyền bắt tay vào công cuộc xây dựng chính quyền độc lập tự chủ, nhưng chính quyền trung ương của NGô Quyền chưa đủ sức kiểm soát, quản lí chặt chẽ các địa phương. Ở các địa phương, châu huyện vẫn được  giữ nguyên. Các Thứ sử như Đinh Công Trứ vẫn tiếp tục cai quản châu của mình. Bên cạnh những làng xóm cổ truyền, một số làng mới và một số trang trại hình thành. Các chủ trang trại có thể là quan chức cũ của chính quyền đô hộ ở lại lập nghiệp lâu dài trên đất nước ta, như họ Hồ ở trang trại Bàu Đột (Quỳnh Lưu - Nghệ An);  họ Lă ở Tiên Du, Bắc Ninh; hoặc là các thổ hào ở địa phương như họ Dương ở Dương Xá (Đông Sơn - Thanh Hóa),…Năm 944, Ngô Quyền mất, trong triều xảy ra nhiều biến loạn và xung đột làm cho chính quyền trung ương suy yếu. Dương Tam Kha, em vợ của Ngô Quyền đã cướp ngôi và xưng làm Bình Vương. Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập phải chạy lên đất Trà Hương (Kim Thành - Hải Dương) nương nhờ hào trưởng Phạm Lệnh Công. Dương Tam Kha nuôi con thứ hai của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn. Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn lùng bắt Ngô Xương Ngập. Năm 950, Ngô Xương Văn nhân một lần được Bình Vương sai dẫn quân đi đàn áp cuộc nổi dậy của các thôn Đường, Nguyễn (ở Thái Bình, Quốc Oai, Hà Tây) đã cùng với chỉ huy sứ Đỗ Cảnh Thạc và  Dương Cát Lợi bắt Dương Tam Kha giành lại chính quyền.

 Ngô Xương Văn tự xưng là Nam Tấn Vương và cho người lên Trà Hương mời anh mình về cùng trị việc nước. Ngô Xương Ngập tự xưng là Thiên Sách Vương nắm hết quyền hành. Nam Tấn Vương không được tham gia chính sự. Năm 954, Ngô Xương Ngập chết, Ngô Xương Văn nắm chính quyền nhưng thế lực yếu ớt. Mâu thuẫn trong nội bộ nhà Ngô đã tạo điều kiện cho các thổ hào, quan lại địa phương nổi dậy mộ quân làm chủ vùng mình trấn trị. Nhưng cục diện 12 sứ quân chỉ xuất hiện trọn vẹn từ năm 965, sau cái chết của Ngô Xương Văn, chính quyền trung ương tan rã, không có bộ máy quản li chung. Các thổ hào ở địa phương, nhiều cựu thần của nhà Ngô nhân đó phân tán về địa phương, mỗi người chiếm giữ một phần tạo thành cục diện cát cứ mà sử cũ gọi là “Thập nhị tướng quân”. Đó là:

1. Kiều Công Hãn, tự xưng là Kiều Tam chế, chiếm giữ vùng Phông Châu (Phú Thọ).

2. Nguyễn Khoan, tự xưng là Nguyễn Thái Bình, chiếm giữ vùng Tam Đái (Phú Thọ), Yên Lạc (Vĩnh Phúc). 

3. Ngô Nhật Khánh, tự xưng là Ngô Lăng Công, chiếm giữ Đường Lâm (Hà Tây).

4. Đỗ Cảnh Thạc, chiếm giữ vùng Bảo Đài, Thanh Oai (Hà Tây).

5. Ngô Xương Xí – con của Ngô Xương Ngập, chiếm giữ Bình Kiều (Thanh Hóa).

6. Lý Khuê, tự xưng là Lý Lãng Công giữ đất Siêu Loại (Bắc Ninh).

7. Nguyễn Thủ Tiệp, tự xưng là Nguyễn Lệnh Công chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh).

8. Lã Đường, tự xưng là Lã Tá Công chiếm giữ Tế giang (Văn Giang, Hưng Yên).

 9. Nguyễn Siêu, tự xưng là Nguyễn Hữu Công chiếm giữ Tây Phù Kiệt (Thanh Trì, Hà Nội).

10. Kiều Thuận, tự xưng là Kiều Lệnh Công, chiếm giữ vùng Cẩm Khuê (Hà Tây).

11. Phạm Bạch Hổ, tự xưng là Phạm Phòng Át, chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên).

12. Trần Lãm, tự xưng là Trần Minh Công chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Thái Bình) ([1])

Về địa bàn chiếm giữ, 12 sứ quân đều tập trung...xung quanh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ ngày nay (trừ Ngô Xương Xí ở Bình Kiều –Thanh Hoá). Tuyệt đại bộ phận vùng chiếm cứ của các sứ quân tập trung ven sông Hồng, sông Đuống, sông Tích (sông Con), gần trung tâm Cổ Loa. Sở dĩ các sứ quân chiếm giữ các vùng đất này bởi đó những vùng đất trù phú, tập trung đông dân cư, lại là nơi đầu mối giao thông (thời cổ xưa chủ yếu là giao thông đường thuỷ. Với điêu kiện tự nhiên, xă hội như vậy đă tạo cho các sứ quân có một tiềm lực kinh tế mạnh đồng thời cũng có một vị trí chiến lược  quân sự lợi hại. 

Tình trạng cát cứ hỗn loạn đă trở thành một nguy cơ đe doạ nền độc lập vừa mới giành được của đất nước. Mặt khác cũng trong thời gian này, năm 960, Trung Quốc, nhà Tống vừa được thành lập, bắt đầu mở rộng thế lực xuống phía nam. Đất nước ta lại đứng trước hoạ ngoại xâm. Để bảo vệ nền độc lập của đất nước đòi hỏi phải giữ vững khối đoàn kết dân tộc, chấm dứt tình trạng cát cứ của 12 sứ quân, khôi phục quốc gia thống nhất và nhà nước trung ương tập quyền. Đinh Bộ Lĩnh là người đã thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó, lần lượt đánh bại 12 sứ quân, lập nên nhà Đinh. 

2. Dẹp loạn sứ quân

Đinh Bộ Lĩnh quê ở Đại Hữu, huyện Gia Viễn (Ninh Bình) thuộc dòng dõi một dòng họ lớn. Ông là con trai của thứ sử Đinh Công Trứ, gắn bó với chính quyền độc lập tự chủ từ thời Dương Đình Nghệ và thời Ngô Quyền. Ngay từ thuở nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã bộc lộ sự thông minh hiếu động. Trong khi con cái của các nhà tướng khác thường thích chơi ở chốn phong cảnh hữu tình, ăn nói nhã nhặn. Thì Đinh Bộ Lĩnh chỉ thích những trò nghịch ngợm, thậm chí cả gây gổ đánh nhau va thường có những ý tưởng sáng tạo. Chuyện kề lại rằng, có một lần, Dương Đình Nghệ mở hội thả đèn trên sông, Đinh Bộ Lĩnh được cùng cha tham dự. Mọi người thả đèn bằng cách kết những chiếc bè nhỏ, bên trên đặt các đĩa dầu bấc. Vì bè nặng nên khi thăm người ta phải lấy tay khua đẩy nước. Khi đèn ra xa rồi phải lấy đá ném xuống nước để lái bè xuôi theo đòng. Riêng đèn của cha con họ Đinh được làm bằng thân lau khô. Trên đô, Đinh Bộ Lĩnh buộc một quả bưởi đã khoét hết ruột, bên trong đựng một ống tre đựng dầu và đặt các cuộn bấc toả ra xung quanh. Đèn của Đinh Bộ Lĩnh nhỏ, gọn nhưng lại sáng và cháy lâu nhất, lại đi được xa nhất nên được mọi người hết sức tán thưởng. 

Sau khi bố mất, Đinh Bộ Lĩnh cùng gia đình về quê. Ông thường cùng lũ trẻ chăn trâu trong vùng chơi trò đánh trận, láy bông lau làm cờ. Nhờ có tài chỉ huy, có chí lớn, ông được bạn bè kính phục, đi đâu đều được chúng khoanh tay làm hiệu để khiêng. Lũ trẻ các làng bên cũng đều suy tôn ông. Bà mẹ thấy thế rất mừng, có khi mổ cả lợn để khao thưởng. Người già trong làng cũng rất quý trọng ông, nên khi ông lớn lên, được tôn làm trưởng sách: Chú ông ở làng bên, nhân hình hình trong nước không yên, đã tập hợp quân, đánh sang làng của Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh chống không nổi. Theo truyền thuyết, khi chạy qua cầu Đàm Gia([2]), chẳng may bị rơi xuống vũng bùn, người chú lấy giáo định đâm chết, nhưng thấy hai con rồng vàng che đỡ, nên sợ quá, lùi về. Sau đó, ông quay lại, tập hợp trai làng, bạn bè cũ sang đánh làng của chú. Chú thua phải quy phục.

Năm 20 tuổi, nhân lúc nhà Ngô suy yếu, sẵn ưu thế của con nhà dòng dõi lại thêm có tài năng ý chí và được sự giúp đỡ của các bạn thân từ nhỏ như Đinh Đặc, Nguyễn Bặc, Đinh Bộ Lĩnh đã trở thành người  cầm đầu cả một vùng đất Hoa Lư. Nhân dân trong vùng đều tin theo Đinh Bộ lĩnh. Để gây uy tín với triều đình, Đinh Bộ Lĩnh đã cho con trai là Đinh Liễn đến Cổ Loa triều cống, làm con tin. Trước thanh thế của Đinh Bộ Lĩnh, năm 951, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn đã đưa quân tiến công căn cứ của Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư. Sau một tháng vây hãm không kết quả, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn đã mang Đinh Liễn ra làm mồi nhử để dụ hàng. Trước tình thế đó Đinh Bộ Lĩnh đã nói: “Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà bắt con hay sao” và sai quân lính nhằm bắn vào Đinh Liễn. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn hoảng sợ rút quân.

Để dẹp 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã áp dụng chiến thuật “bẻ đũa từng chiếc” và kết hợp các biện pháp chính trị (liên kết, hàng phục) với biện pháp quân sự (hành quân đánh dẹp). Trước hết Đinh Bộ Lĩnh đã thực hiện liên kết với sứ quân Trần Lãm, nên đã mở rộng được địa bàn, tăng cường được thế lực. Sự liên kết này đã giúp Đinh Bộ Lĩnh vươn từ vùng lầy lội, bán sơn địa hoang rậm ra vùng châu thổ màu mỡ thuộc hạ lưu sông Hồng, sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội ngày một tăng. Vùng đất Bố Hải Khẩu (Thái Bình) của Trần Lãm liền kề với khu cực do Đinh Bộ Lĩnh quản giữ, hơn nữa đây lại là cửa ngõ quan trọng giao lưu với bên ngoài, tỏa đi các vùng thuộc miền đông bắc, miền Trung và miền Nam thời đó nên Đinh Bộ Lĩnh tìm cách liên kết. Về mặt quân sự, sự liên kết này đã tạo thành vị trí chiến lược rất thuận lợi cho việc cố thủ và cũng là bàn đạp để tấn công. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh lại chiêu dụ thêm sứ quân Phạm Phòng Át ở Đằng Châu (Hưng Yên).

Năm 965, Ngô Xương Văn mất, triều đình Cổ Loa rối loạn, Đinh Bộ Lĩnh sai con đi dẹp đám loạn thần ở Cổ Loa. Như vậy Đinh Bộ Lĩnh từ chỗ chỉ làm chủ một vùng nhỏ, nay đã làm chủ cả một vùng rộng lớn nối liền từ Hoa Lư đến Cổ Loa. Với hai sứ quân thuộc dòng dõi nhà Ngô - Ngô Nhật Khánh và Ngô Xương Xí, Đinh Bộ Lĩnh đã hàng phục nhanh chóng và dùng hôn nhân để thắt chặt quan hệ. Đinh Bộ Lĩnh tiến đánh ba sứ quân:  - Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu và Kiều Công Hãn – và giành thắng lợi.

Như vậy sau 20 năm nuôi dưỡng, tập hợp lực lượng, Đinh Bộ Lĩnh đã xóa bỏ tình trạng phân tán cát cứ của các sứ quân, thống nhất đất nước, thiết lập nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Dưới triều Đinh, chế độ trung ương tập quyền tiếp tục được phát triển thêm một bước, góp phần củng cố vững chắc nền độc lập, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của dân tộc.

Đánh giá công lao của Đinh Bộ Lĩnh, Lê Văn Hưu viết: “ Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàn đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ. Có lẽ ý trời về nước Việt ta mà lại sinh ra bậc Thánh triết để tiếp nối quốc thống…”([3]).

Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh trong cuộc dẹp loạn 12 sứ quân không chỉ vì tài  năng của ông mà còn là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của mỗi người dân đất Việt.



[1] Theo Trương Hữu Quýnh (chủ biên). Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb Giáo dục, năm 2000, tr.110

[2] Nay là làng Điềm Xá, huyện Gia Viễn; vì có điển tích rồng vàng này lên người ta còn gọi con sông ấy là sông Hoàng Long.

[3] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội, 1984, tr.205.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Buổi đầu độc lập
Buổi đầu độc lập
Đất nước thời Ngô – Đinh - Tiền Lê.
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân
Lê Hoàn với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Cố đô Hoa Lư
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google