Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Sự tìm kiếm chất đen - thấu...
Một số dạng vượn - người và...
Bối cảnh xuất hiện của con người
Các giải nobel về sinh lý học...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Những hậu quả của nền văn minh...
Các nguồn năng lượng mới
Điện hạt nhân trên thế giới...
Du hành trong dải ngân hà
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Thời Trần - Hồ (Thế kỉ XIII - Đầu thế kỉ XV)


Nhà Hồ và những cải cách của Hồ Quý Ly

Nhà Hồ và những cải cách của Hồ Quý Ly

Vào nửa cuối thế kỉ XIV, đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và nguy cơ mất nước, nhà Trần đă chứng tỏ sự bế tắc, suy yếu, không còn đủ khả năng điều hành đất nước, kinh tế đất nước sa sút, nạn đói xảy ra liên miên, nông dân, nô tì nổi dậy khởi nghĩa. Quân Chiêm Thành 3 lần tấn công kinh đô Thăng Long, đốt phá cung điện, nhà Trần đều bó tay. Trong lúc đó, nguy cơ xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) đang đến gần. Yêu cầu bức thiết đặt ra là phải có một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh, đủ khả năng thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng để giải quyết cuộc khủng hoảng về kinh tế, xã hội và lãnh đạo nhân dân đánh thắng ngoại xâm.

Hồ Quý Ly (1336-1407), tổ tiên của ông là người họ Hồ ở đất Quỳnh Lưu (Nghệ An). Ông tổ 4 đời của Hồ Quý Ly là Hồ Lâm đời quê ra ở hương Đại Lại (Kim An - Vĩnh Lộc - Thanh Hoá), xin làm con nuôi của Tuyên uý Lê Huấn, rồi đổi sang họ Lê. Ông tự là Lý Nguyên, sinh trưởng trong một gia đình qúi tộc họ ngoại của nhà Trần. Ông có hai người cô là cung phi của Trần Minh Tông và đều trở thành mẹ của vua Trần. Ông tài giỏi lại am hiểu tình hình đất nước. Vì vậy khi Trần Nghệ Tông - vốn là con một người cô của Quý Ly được lập làm vua thì ông được Trần Nghệ Tông rất tin dùng.

Năm 1371, sau khi củng cố được địa vị thống trị của họ Trần, Nghệ Tông bắt đầu phong tước cho những người có công ủng hộ mình và tổ chức lại bộ máy nhà nước. Quý Ly được đưa lên chức khu mật đại sứ- một chức vụ quan trọng trong triều, trông coi cấm quân. Năm 1375 ông được giữ chức tham mưu quân sự và sau đó 1387 được Nghệ Tông nâng lên chức Đồng binh chương sự, quyền như tể tông cùng vua bàn bạc việc nước. Dựa vào chức quyền và sự tin yêu của Thượng hoàng Nghệ Tông, Quý Ly tìm cách đưa dần người trong họ và bè phái vào nắm các chức quan trọng trong triều và trong quân đội.

Năm 1388 vua Trần Duệ Tông (em Trần Nghệ Tông) và thái uý Trần Ngạc định giết Quý Ly, chẳng may việc bại lộ. Quý Ly tâu việc đó với Nghệ Tông và dùng áp lực của Thượng hoàng phế vua rồi đem giam ở chùa Tư Phúc, sau đó cho người giết chết. Năm 1395 Thượng hoàng Nghệ Tông chết. Quý Ly được phong Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên trung vệ quốc đại vương. Quyền hành hầu như nắm hết trong tay Lê Quý Ly. 

Năm 1397 Lê Quý Ly cho xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc – Thanh Hóa) rồi sau đó bắt vua Trần Thuận Tông vào đây, ép vua làm lễ nhường ngôi cho con (mới 3 tuổi) tức Thiếu Đế. Năm 1399 ông cho giết Trần Thuận Tông. Tiếp đó đến tháng 2-1400, Qúy Ly bức vua Trần phải nhường ngôi rồi tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, lấy lại họ Hồ và đổi quốc hiệu là Đại Ngu ([1]) thành lập triều đại nhà Hồ. 

Trong qúa trình xây dựng một tập đoàn phong kiến mới và tiến hành đoạt ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly đă thi hành nhiều chính sách và biện pháp cải cách trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.:

1.Về chính trị, quân sự:

Từ năm 1375, Hồ Quý Ly đă đề nghị xoá bỏ chế độ lấy người trong tôn thất làm các chức chỉ huy quân sự cao cấp, định lại số quân, đưa lực lượng trẻ vào quân đội.

Năm 1397 Hồ Quý Ly cho đổi tên các trấn như Thanh Hoá thành Thanh Đô, Quốc Oai thành trấn Quảng Oai... và sắp xếp hệ thống quan lại ở địa phương, thống nhất việc quản lí từ trung ương đến địa phương. Hồ Quý Ly qui định cơ chế làm việc: “Lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyên. Phàm những việc hộ tịch, tiền thóc, kiện tụng đều làm gộp một sổ của lộ, đến cuối năm báo lên sảnh để làm bảng mà kiểm xét”.

Khu vực quanh kinh thành Thăng Long được đổi gọi là Đông Đô lộ do phủ đô hộ cai quản. Sau đó Hồ Quý Ly cho dời đô vào An Tôn (Tây Đô). Chế độ Thái thượng hoàng tạm bãi bỏ, nhưng đến khi nhà Hồ thành lập năm 1401 ông nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương lại tự xưng là Thái thượng hoàng.

Hồ Qúy Ly loại bỏ dần tầng lớp quí tộc Trần khỏi bộ máy chính quyền trung ương, thay thế bằng tầng lớp nho sĩ trí thức có tư tưởng cải cách. Ví như ông đưa Nguyên Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm đô sự và giết các tướng lĩnh là tôn thất quí tộc nhà Trần: Trần Ngọc Cơ, Trần Khắc Chân...Để nhanh chóng đào tạo một hệ thống quan liêu mới cho nhà Hồ, ông cũng ra sức tuyển chọn, đề bạt và tổ chức thi cử.

Về quân sự, Hồ Quý Ly định lại binh chế, chỉnh đốn quân đội, tổ chức lại quân túc vệ, tăng cường kỉ luật quân đội. Các tướng sĩ bất tài sức yếu bị sa thải, thay bằng nhưng người khoẻ mạnh, am tường võ nghệ. Quân đội được biên chế thành các quân, đô, vệ, đứng đầu có đại tướng, đô tướng và phó đô tướng quân. Ở đơn vị có các chức đại đội trưởng, đại đội phó, đô đốc, đô thống, tổng quân. Cấm quân có 20 vệ, quân thường trực sắp xếp thành nhiều quân, mỗi quân gồm nhiều vệ, mỗi vệ có 18 đội, mỗi đội đội có 18 người. Để thực hiện ý định xây dựng một đạo quân mạnh, Hồ Quý Ly tiến hành làm sổ hộ tịch để kiểm kê dân số, ghi tên tất cả con trai từ 2 tuổi trở lên...

Bên cạnh việc tổ chức quân đội, Hồ Quý Ly cũng chủ trương cải tiến  vũ khí và trang bị. Bằng nhiều biện pháp như mở xưởng rèn đúc vũ khí, tuyển các thợ giỏi và mở các quân xướng, nhà Hồ đã chế tạo được những vũ khí mới, lợi hại. Súng thần cơ do Hồ Nguyên Trừng sáng chế là loại đại bác đầu tiên ở nước ta. Loại súng này có kích cỡ lớn nhỏ khác nhau, mức độ sát thương cao, sức công phá hơn cả hoả pháo của quân Minh. Bên cạnh các đội cung tên, giáo, mác, kích, máy bắn đá... trong quân đội nhà Hồ còn có bộ phận pháo binh.

Nhà Hồ còn mở xưởng đóng thuyền đinh sắt để chuẩn bị đối phó với sự xâm lược của nhà Minh. Thuyền chiến của nhà Hồ là loại thuyền lớn, sàn thuyền đi lại dễ dàng, tiện cho chiến đấu. Mái chèo được làm cho hai người chèo. Chính nhờ kỹ thuật thuyền chiến và việc huấn luyện thuỷ chiến tiến bộ, nên trong quá trình chiến đấu, thuỷ binh của nhà Hồ là lực lượng đánh có hiệu quả.

Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng hệ thống phòng thủ quốc gia với nhiều công trình, kỹ thuật quân sự khá lớn như thành Tây Đô, thành Đa Bang...Thành Đa Bang là công trình phòng thủ dài gần 400 km kéo dài từ núi Tản Viên đến sông Thái Bình. 

2. Về kinh tế, tài chính, xã hội

Năm 1396, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy gọi là ''thông bảo hội sao'' gồm các loại 10 đồng, 30 đồng, 2 tiền, 3 tiền, 1 quan. Tất cả mọi người đều phải mang tiền đồng nộp vào kho nhà nước để đổi tiền giấy và qui định: ai làm tiền giả phải tội chết. Một quan tiền đồng đổi được 1 quan hai tiền giấy nếu ai còn dùng tiền đồng bị bắt cũng phi tội như làm giả... Chính sách này nhằm tăng thêm ngân quỹ cho nhà nước, đồng thu được lại để đúc vũ khí. 

Năm 1397 theo đề nghị của Hồ Quý Ly, vua Trần ''xuống chiếu hạn định số ruộng tư ban hành chính sách hạn điền. Theo chính sách này, trừ đại vương và trưởng công chúa, còn lại tất cả mọi người không được sở hữu quá 10 mẫu. Người nào có nhiều ruộng được phép đem chuộc tội, nếu không cũng phải nộp nhà nước. Để kiểm tra việc thực hiện chính sách này, năm 1398, Hồ Quý Ly cho các quan về địa phương làm lại sổ ruộng đất. Người nào có ruộng tư phải kê khai rõ và cắm thẻ ghi tên của mình trên mảnh ruộng. Ruộng nào không có người nhận nhà nước sẽ sung công.

Năm 1402, nhà Hồ ban hành chính sách thuế khoá mới, định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng Thuế đinh chỉ đánh vào người có ruộng được chia, người không có ruộng, trẻ mồ côi, đàn bà goá không phải nộp. Căn cứ vào số ruộng sở hữu để đánh thuế (người có 5 sào ruộng nộp 5 tiền... người có trên 2 mẫu 6 sào nộp 3 quan), không đánh thuế đồng đều như ở thời Trần (3 quan 1 đinh).

3. Về xã hội

Năm 1401, nhà Hồ ban hành chính sách hạn chế nô tì. Quý tộc, quan lại tuỳ theo phẩm tước, cấp bậc mà được nuôi một số lượng gia nô theo qui định chung của nhà nước, số thừa ra phải sung công. Mỗi gia nô được nhà nước đền bù 5 quan tiền, trừ loại mới nuôi hoặc gia nô người nước ngòai. Cũng vào năm đó, nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, ghi tất cả tên những người từ 2 tuổi trở lên. Dân phiêu tán không được ghi vào sổ dân kinh thành trú ngụ ở các phiên, trấn phải trở về quê quán.

Năm 1403, sau khi thu phục được vùng đất từ Hoá Châu đến Cổ Lũy (Bắc Quảng Ngãi) nhà Hồ đưa những người có của mà không ruộng, biên làm quân ngũ, ở lại trấn giữ lâu dài.

Năm 1405, khi nạn đói xảy ra, nhà Hồ đă lệnh cho các quan địa phương khám xét những nhà giàu thừa thóc, bắt phải bán cho người bị đói theo thời giá. Nhà Hồ cũng đặt Quảng tế thự để chữa bệnh cho dân.

4. Về văn hoá, giáo dục 

Từ năm 1392, tư tưởng cải cách văn hoá, giáo dục của Hồ Quý Ly đã được thể hiện khi ông viết sách ''Minh đạo'' (con đường sáng). Trong đó ông phê phán Khổng Tử, đề cao Chu Công. Ông là người có ý thức đề cao chữ nôm. Vì vậy, năm 1395, ông đă tự dịch thiên Vô Dật (không lười biếng) trong sách Kinh thư ra chữ Nôm để dạy cho các cung phi, cung nhân.

Năm 1396, Hồ Quý Ly bắt tất cả các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục và tổ chức thi về giáo lí nhà Phật. Những người thông hiểu giáo lí nhà phật mới được ở lại làm sư.

Cũng vào năm đó, Hồ Qúy Ly cho sửa đổi chế độ thi cử, ông cho đặt kỳ thi Hương ở địa phương và thi Hội ở kinh thành. Trong 4 trường thi, Hồ Quý Ly bỏ lối thi ám tả cổ văn thay bằng thi kinh nghĩa. Năm 1404, ông đặt thêm trường thứ 5 thi viết chữ và toán.

Ở địa phương, từ năm 1397, Hồ Quý Ly đă đề nghị nhà nước mở trường học ở các châu, lộ phủ, cử các quan giáo thụ trông coi và cấp ruộng học điền cho các địa phương từ 12 đến 15 mẫu để chi cho việc học tập. 

Trên đây là những cải cách cơ bản mà Hồ Quỳ Ly thực hiện. Qua nội dung cải cách thể hiện ông là một nhà cải cách táo bạo, quả quyết, giàu lòng yêu nước, có ý thức tự tôn dân tộc cao. Các biện pháp, chính sách của ông nhằm thực hiện hai mục tiêu cơ bản củng cố, tăng cường chế độ quân chủ trung ương tập quyền và giải quyết các mâu thuẫn kinh tế - xã hội do yêu cầu đặt ra. Nội dung cải cách của Hồ Qúy Ly mang tính tương đối toàn diện từ chính trị đến kinh tế, tài chính, xa hội - văn hóa giáo dục. 

Thông qua cải cách chính trị, kinh tế, xã hội, Hồ Quý Ly đă loại bỏ dần được đặc quyền và thế lực của tầng lớp quí tộc Trần, xây dựng một nhà nước quan liêu không đẳng cấp, quyền lực tập trung, để giải quyết những khó khăn trong nước và chống lại các thế lực xâm lược từ bên ngoài. Điều đó đặt cơ sở cho việc hoàn chỉnh chế độ quân chủ trung ương tập quyền cuối thế kỉ XV dưới triều vua Lê Thánh Tông. 

Trong điều kiện xã hội Đại Việt lúc đó, công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan để phát triển đất nước là một bước tiến của nước ta về cả thiết chế chính trị, mô hình nhà nước  và kinh tế xã hội. Nó nhằm xoá bỏ loại hình kinh tế điền trang đã lỗi thời, không còn phù hợp. 

Bên cạnh đó, cải cách của Hồ Quý Ly cũng bộc lộ một số hạn chế: Việc thực hiện chính sách hạn điền đã hạn chế sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất là chưa phù hợp với xu thế phát triển chung của xă hội lúc đó. Số nô tì bị hạn chế, nhưng lại rơi vào tay nhà nước. Nhân dân chưa quen việc tiêu tiền giấy, nên chính sách phát hành tiền giấy không có hiệu quả…

Công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly được thực hiện trong hoàn cảnh lịch lử đầy khó khăn, phức tạp. Ở trong nước, cuộc khủng hoảng xă hội trên nhiều mặt đang diễn ra, ở bên ngoài, nguy cơ ngoại xâm đang đến gần, hơn nữa qúi tộc tôn thất nhà Trần chống đối quyết liệt. Do đó, những hạn chế trên là điêu khó tránh khỏi.

Những hạn chế của công cuộc cải cách đă tác động xấu đến khả năng thu phục nhân tâm và khối đoàn kết dân tộc khi nạn ngoại xâm xảy ra, chính Hồ Nguyên Trừng đă nói lên điều này “Tôi không sợ đánh (giặc) mà chỉ sợ lòng dân không theo”. 

Vì vậy, cuối năm 1406, nhà Minh xâm lược nước ta, chỉ sau hơn nửa năm cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại, kéo theo sự sụp đổ của vương triều Hồ. Tuy nhiên, những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn được đánh giá cao, vì có nhiều ý nghĩa tiến bộ. 



[1] Đại ngu: An vui lớn.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX   Thời Trần - Hồ (Thế kỉ XIII - Đầu thế kỉ XV)
Trần Hưng Đạo
Trần Quốc Toản
Nhà Hồ và những cải cách của Hồ Quý Ly
Chùa Dâu
Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google