Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Kỹ thuật vô tuyến phục vụ...
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Khoa học vũ trụ thế kỷ XXI
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Nghiên cứu thám hiểm các hành tinh
Nguồn gốc loài người
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ 1930 đến nay   Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945


Phong trào giai phóng Dân tộc 1939-1945

Phong trào giải phóng Dân tộc 1939-1945

Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra. Tình hình đã thay đổi, nhiệm vụ Cách mạng cũng phải thay đổi cho phù hợp, song Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh để giành thắng lợi trong công cuộc giải phóng dân tộc, khi thời cơ đến.

I. Việt Nam trong những năm 1939-1945

Là một nước thuộc địa bị áp bức, bóc lột nặng nề, trong điều kiện chiến tranh Việt Nam càng rơi vào tình trạng bi thảm hơn.

1. Tình hình chính trị

Ngày l-9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, khi quân Đức tấn công Ba Lan: Ngày 3-9-1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Lợi dụng tình hình chiến tranh, Chính phủ pháp đã thi hành những chính sách thù địch đối với những lực lượng tiến bộ trong nước, nhất là Đảng Cộng sản Pháp và phong trào cách mạng ở thuộc địa.

Ở Viễn Đông, quân phiệt nhật tăng cường xâm lược Trung Quốc và cho quân tiến sát biên giới Việt - Trung, hòng chiếm đóng Việt Nam, chuẩn bị mở rộng chiến tranh ở châu Á - Thái Bình Dương.

Tháng 6-1939, Pháp đầu hàng Đức. Đô đốc Decoux được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương thay tướng Catroux. Decoux tiếp tục chính sách của Catroux, đẩy mạnh những biện pháp cai trị, như tăng cường bộ máy kiểm soát các hoạt động chính trị, đưa nhiều sĩ quan vào nắm các chức vụ then chốt trong phủ Toàn quyền. Những chính sách đó đưa đến việc phát xít hóa bộ máy cai trị của chúng ở Đông Dương: Chúng xoá bỏ những quyền lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong thời kì Mặt trận dân chủ. Chúng tiến hành các cuộc bắt bớ, khủng bố những người cộng sản, những người yêu nước. Đồng thời để phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc, chúng thi hành chính sách kinh tế chỉ huy. Lệnh tổng động viên được ban hành nhằm bắt lính, bắt phu xây dựng đường sá, công sự phòng thủ. Nhiều biện pháp nhằm tăng mức thuế cũ, đặt thêm thuế mới, lạc quyên công trái, xổ số… được thực hiện.

Nhân cơ hội nước Pháp bị quân Đức xâm chiếm, quân phiệt nhật tăng cường gây sức ép với chính quyền thuộc địa Đông Dương. Ngày 18-6-1940, bốn ngày sau khi Paris, thủ đô nước Pháp, lọt vào tay quân Đức, Nhật gửi Toàn quyền Catroux tối hậu thư đòi Pháp phải đóng cửa biên giới Việt - Trung không để cho Đồng minh tiếp tế xăng dầu, phương tiện chiến tranh vào nội địa Trung Quốc theo đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam.

Đầu tháng 8-1940, Nhật tấn thêm bước nữa, đòi Pháp để quân Nhật vào Đông Dương, được sử dụng sân bay Gia Lâm, Cát Bị, Phủ Lạng Thương và nhiều đặc quyền khác. Ngày 30-8-1940, Hiệp định Tokyo được ký; Pháp phải chấp nhận hầu hết các yêu sách của Nhật.

Ngày 22-9-1940, Nhật gửi tối hậu thư cho Pháp đòi thi hành ngay Hiệp định Tokyo. Không đợi trả lời, ngay hôm ấy, Nhật cho quân vượt biên giới Việt - Trung, tiến công Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn. Ngày 23-9, Pháp phải ký Hiệp định, chấp nhận quân nhật vào đóng ở Đông Dương.

Ngày 6-5-1841, Nhật lại buộc Pháp ký một Hiệp định Tokyo khác, nhường cho Nhật được hưởng nhiều đặc quyền về kinh tế ở Đông Dương.

Ngày 23-7-1941, Toàn quyền Decoux ký với Nhật một hiệp định quân sự mới với danh nghĩa “Phòng thử chung Đông Dương”. Theo đó, Chính phủ Đông Dương cho quân Nhật, với số lượng không hạn chế, được tự do di chuyển khắp lãnh thổ Đông Dương. Ngày 29-7-1941, trong một hiệp định khác, Nhật được Pháp nhường quyền sử dụng tất cả các sân bay và hải cảng ở Đông Dương cho mục đích quân sự.

Ngày 8-12-1941, trước khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Nhật buộc Toàn quyền Decoux kí thêm một hiệp định, cam kết “hợp tác” với Nhật trong việc “phòng thủ Đông Dương”.

Như vậy, từng bước Nhật lấn dần pháp để cùng nhau chiếm Đông Dương. Về điều này, trong Tuyên ngôn độc lập, đọc ngày 2-9-1945 ở Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”[1].

2. Tình hình kinh tế - xã hội

khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường bóc lột nhân dân các nước thuộc địa. Chúng chuyển kinh tế Đông Dương thành nền kinh tế chiến tranh, rồi sau đô thị hành cái gọi là “kinh tế chỉ huy”, tức là nắm mọi độc quyền kinh tế để “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”[2] . Chúng đã xây dựng những nhà máy lắp súng, chế tạo thuốc súng, làm bom đạn và dự định lập xưởng lắp máy bay ở Tông (Sơn Tây), Phú Thọ và Sài Gòn. Chúng bắt nông dân trồng cây công nghiệp để phục vụ cho chiến tranh.

Thi hành “chính sách kinh tế chỉ huy” thực dân Pháp kiểm soát sản xuất, xuất nhập cảng, phân phối hàng hóa và ấn định giá cả. Một số đại tư pháp đã đầu cơ, tích trữ hàng hoá nhập khan hiếm hoặc thu mua hàng với giá rẻ mạt. Chúng tăng cường đầu tư vào Đông Dương để thu lãi lớn. Mọi mối lợi đều tập trung vào tư sản Pháp, đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương, Công ty tài chính cao su và Liên đoàn tài chính Viễn Đông.

Thực dân Pháp còn dùng thủ đoạn tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới để bóc lột nhân dân ta. Trong những năm 1939 - 1945, tổng số thu của ngân sách Đông Dương tăng gấp 2 lần. Riêng thuế thuốc phiện, rượu, muối tăng gấp 3 lần.

Khi nước Pháp bị quân Đức chiếm, mọi quan hệ kinh tế giữa Đông Dương và Pháp bị cắt đứt, Nhật buộc Pháp đóng cửa biên giới Việt -Trung, chấm dứt việc thông thương với Trung Quốc. Quân đội Nhật, một mặt bắt chính quyền thực dân Pháp phải cung đốn mọi nhu cầu thiết yếu, mặt khác trực tiếp vơ vét nguyên liệu, lương thực, thực phẩm để phục vụ cho chiến tranh. Từ 1940-1945, Pháp cung cấp cho Nhật 1.445 triệu đồng và trên 3 triệu 50 vạn tấn gạo, 26 vạn tấn ngô.

Lính Nhật đóng ngay tại các xí nghiệp lớn sản xuất hàng quân sự, dùng báng súng, lưỡi lê buộc công nhân phải kéo dài giờ làm việc mỗi ngày để phục vụ cho nhu cầu quân sự của chúng. Các công ty tư bản Nhật, như công ty thương mại và công nghiệp Đông Dương, hãng Đại Nam công ty… đưa vốn đầu tư vào Đông Dương ngày càng nhiều và hoạt động trong nhiều ngành thương mại và công nghiệp, như khai thác mănggan, sắt ở Thái Nguyên, phốt phát ở Lào Cai, Crôm ở Thanh Hoá. Số vốn đầu tư của các Công ty này từ 1940 - 1943 lên tới 111 triệu frăng, bằng 1/6 tổng số vốn của các công ty Pháp ở Đông Dương.

Hậu quả của sự áp bức, bóc lột của Pháp, Nhật là làm cho kinh tế suy yếu, đồng tiền Đông Dương bị mất giá, hàng triệu người lâm vào cảnh đói rách, bần cùng, hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc bị chết đói trong thời gian ngắn từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945.

Tất cả giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, trừ bọn tay sai của Pháp, Nhật, đại địa chủ, tư sản mại bản, đều chịu ảnh hưởng sự thống trị của Pháp, Nhật với những mức độ khác nhau.

Công nhân nông dân chịu hậu quả nặng nề nhất của chính sách bóc lột. Công nhân phải lao động mỗi ngày 10 - 12 giờ, lương thấp, thất nghiệp. Nông dân gánh chịu sưu cao, thuế nặng, bị cướp ruộng đất, đói khổ: Vì thế, họ luôn đi đầu trong đấu tranh, chống Pháp - Nhật và tay sai, quyết tâm theo cách mạng để giành độc lập tự do.

Tiểu tư sản, trí thức, viên chức, tiểu thương cũng bị bóc lột, có tinh thần yêu nước, tích cực tham gia vào phong trào dân tộc, chống ngoại xâm.

Tư sản dân tộc bị chính sách “kinh tế chỉ huy” làm phá sản, vừa bị thiệt hại vì sức mua của nhân dân giảm sút. Vì vậy, họ cũng có cảm tình với cách mạng, sẵn sàng ủng hộ cách mạng và tham gia vào phong trào dân tộc.

Địa chủ vừa và nhỏ bị xâm phạm về quyền lợi do Pháp, Nhật cướp ruộng đất, tăng thuế, thu thóc tạ, mua ngũ cốc với giá rẻ… Trong chừng mực nhất định họ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc và tay sai để giành độc lập dân tộc.

3. Tình hình văn hóa, tư tưởng

Phát xít Nhật và thực dân Pháp đều dùng thủ đoạn tuyên truyền thông qua các hình thức hoạt động văn hoá tư tưởng để lừa bịp nhân dân, xây dựng cơ sở, tập hợp bọn tay sai phục vụ cho chúng.

Phát xít Nhật tự xem mình là “người bênh vực cho các dân tộc nhỏ yếu ở châu Á, mang lại độc lập tự do cho họ. Chúng gây nên tâm lí “thân Nhật, phục Nhật, sợ Nhật”. Chúng lập ra các đảng thân Nhật, như “Đại Việt Dân chính” Đại Việt Quốc gia liên minh”, “Việt Nam thanh niên cách mạng”, “Việt Nam Ái quốc”, “Phục Quốc”…, tập hợp những kẻ phản nước, bất mãn với chính quyền Pháp, những người bị mua chuộc lừa gạt. Bọn Nhật còn dùng những phần tử trốt-kít, lôi kéo một số tín đồ trong các giáo phái mâu thuẫn với thực dân Pháp (Cao Đài, Hoà Hảo) để chống lại cách mạng. Các đảng phái thân Nhật được thống nhất lại thành tổ chức lấy tên “Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội”' chuẩn bị lập chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Nhật: Chúng đẩy mạnh việc tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á”, “Đồng văn, đồng chủng”, chương trình “Khu thịnh vượng chung”, thông qua các bảo chí, mở trường dạy tiếng Nhật, tổ chức triển lãm, chiếu phim, đặt cơ quan thông tin, du lịch, tiến hành trao đổi các đoàn văn hoá, nghệ thuật, tôn giáo giữa Nhật và Việt Nam.

Tuy ngày càng lệ thuộc vào Nhật, có nguy cơ bị hất cẳng, nhưng thực dân Pháp vẫn cố tìm mọi cách để củng cố thế lực của mình, thông qua việc tuyên truyền, lôi kéo giới thượng lưu, tư sản, địa chủ, trí thức, đặc biệt hướng vào thanh niên, sinh viên: Vì vậy, chúng thi hành một vài “cải cách”, mở thêm trường học, khuấy lên phong trào thể dục thể thao, tổ chức đại hội điền kinh, đua xe đạp... Chúng đưa ra khẩu hiệu “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc”, “Cách mạng quốc gia”, “Pháp - Việt phục hưng” để lừa bịp nhân dân.

Trước những âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của Pháp, Nhật trên mặt trận văn hoá, tư tưởng, Đảng Cộng sản Đông Dương kiên quyết đấu tranh nhằm giáo dục, giác ngộ quần chúng, không bị ảnh hưởng sự tuyên truyền phản động của kẻ thù. Trong điều kiện hoạt động bí mật, bất hợp pháp, có nhiều khó khăn, Đảng đã sử dụng sách, báo làm vũ khí sắc bén, vạch trần  luận điệu phản động, lừa bịp. Các tờ báo “Giải phóng”, “Cờ giải phóng, “Chặt xiềng”, “Cứu quốc”, “Việt Nam độc lập”… góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng, đường lối, quan điểm của Đảng trong quần chúng nhân dân. Trong nhà tù đế quốc, các chiến sĩ cộng sản cũng ra báo, như “Suối reo" (Sơn La), “Bình Minh” (Hoà Bình), “Thông reo” (Chợ Chu), “Dòng sông Công” (Bá Vân)... để nuôi dưỡng ý chí, tinh thần cách mạng, tuyên truyền trong số binh lính, những người trong bộ máy của địch và đến đồng bào… Đảng, Mặt trận Việt Minh phái cán bộ hoạt động công khai, bán công khai trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, tập hợp văn nghệ sĩ, trí thức tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Năm 1943, “Đề cương về văn hoá Việt Nam” của Đảng được công bố, nhằm xây dựng nền văn hoá mới - văn hoá cách mạng. Nền văn hoá mới được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: “khoa học”, “dân tộc”, “đại chúng”. Đề cương... đã thực sự mở ra một hướng mới cho nhà hoạt động văn hoá tham gia đấu tranh cách mạng. Vì vậy, theo yêu cầu của các nhà văn hoá, Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam ra đời và là thành viên của Mặt trận Việt Minh.

Đảng còn vận động, giúp đỡ mọt số sinh viên, trí thức yêu nước thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (tháng 6 - 1944) và gia nhập Mặt trận Việt Minh.

Như vậy, trong phong trào giải phóng dân tộc từ 1939 - 1945, Đảng ta coi văn hoá, tư tưởng là một mặt trận mà văn nghệ cũng là chiến sĩ. Những hoạt động trên mặt trận này đã góp phần giành được thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.

II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9-1939 đến tháng 3-1945

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam vẫn đấu tranh mạnh mẽ, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng đề ra.

1. Chủ trương chuyển hướng đấu tranh của đảng

Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc, đặc biệt về tranh giành thuộc địa dẫn tới chiến tranh thế giới và lan rộng đến nhiều nước. Trong bài “Thế giới đại chiến và phận sự nhân dân ta” đăng trên báo “Việt Nam độc lập” Ngày 21-12-1941, Nguyễn Ái Quốc đã dự đoán: “Từ ngày 8 tháng 12 tây (20 tháng 10 ta), Anh, Mỹ và nhiều nước khác đã bắt đầu đánh Nhật. Thế là chiến tranh lan khắp thế giới, từ… Phi luật Tân[3] , Hương Cảng[4],Tân Gia Ba[5], Mã Lai[6] và nhiều nơi khá hóa ra chiến trường. Ngoài bể Thái Bình Dương, tàu trận các nước đã đánh nhau lung tung. Nạn binh lửa nay mai sẽ lan tới Sài Gòn, Cam Ranh, Hải Phòng, Hà Nội và các nơi. Dân ta sẽ bị chết người hại của.

Vì ai nên nỗi nước này?

Vì giặc Nhật giặc Tây đó mà![7]

Trước đó, trong thời kì 1936-1939, Đảng ta cũng đã có những hoạt động nhằm chuẩn bị lực lượng khi chiến tranh đế quốc nổ ra. Đảng chỉ thị cho 1 cán bộ đang hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp nhanh chóng rút vào bí mật, nhưng phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Từ hoạt động ở thành thị và nhiều vùng khác trong nước, Đảng chủ trương chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, xây dựng nông thôn thành căn cứ địa cách mạng, đồng thời tiếp tục duy trì cơ sở ở thành thị, kết hợp chặt chẽ phong trào thành thị với phong trào nông thôn. Chủ trương đúng đắn này không chỉ tránh được tổn thất do địch đánh phá, bảo vệ lực lượng mà còn giữ vững phong trào cách mạng để chuẩn bị tổng khởi nghĩa khi có thời cơ. Ngày 29-9-1939, khi chiến tranh thế giới đã nổ ra Trung ương Đảng ra thông cáo gửi các cấp bộ Đảng, nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ để “tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”.

Từ ngày 6 đến 8-11-1939, Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tiến hành tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định), do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị phân tích tính chất cuộc chiến tranh thế giới, tình hình Đông Dương và đề ra đường lối chính trị, phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới: hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách nhất và mục tiêu chiến lược lớn nhất của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc, dù là Pháp hay nhật, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập. Hội nghị nêu rõ: "Bước đường sinh tồn của các dân tộc ở Đông Dương không có con đường nào khác là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập. Đế quốc Pháp còn, dân chúng Đông Dương chết. Đế quốc Pháp chết, dân chúng Đông Dương còn”[8]. Để tập trung lực lượng đánh đế quốc, Hội nghị chủ tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản động, chống tô cao, lãi nặng. Khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công - nông - binh được thay bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà; thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc Phản đế Đông Dương thay cho mặt trận Dân chủ Đông Dương. Lực lượng chính của Mặt trận là công nhân, nông dân, đoàn kết với các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh hoặc trung lập giai cấp tư sản bản xứ, trung tiểu địa chủ, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và phương pháp đấu tranh, Đảng chủ trương chuyền từ đấu tranh đòi dân sinh dân chủ sang đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, hoạt động bí mật và bất hợp pháp. Đảng giương cao ngọn cờ đoàn kết với lực lượng cách mạng thế giới do Liên Xô làm trụ cột, phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và Campuchia, quan hệ mật thiết với lực lượng chống phát xít ở Trung Quốc và Pháp. Hội nghị nhấn mạnh việc coi trọng công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng.

Hội nghị Trung ương lần thứ 6 đánh dấu sự mở đầu cho việc thay đổi chủ trương đấu tranh của Đảng, mở đầu thời kì cách mạng mới - thời kì vận động giải phóng dân tộc.

2. Những cuộc khởi nghĩa mở đầu thời kì đấu tranh mới.

Trong tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam, theo chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp, Nhật nổ ra.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940)

Đêm 22-9-1940, quân Nhật vượt qua biên giới Việt - Trung tiến công chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn. Quân Pháp ở Lạng Sơn tuy đông nhưng chỉ sau và ngày giao chiến đã tan rã. Phần đông quân pháp đầu hàng, số còn lại tháo chạy về Thái Nguyên. Chính quyền của thực dân Pháp ở những vùng này sụp đổ.

Nhân cơ hội đó nhân dân Bắc Sơn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương nổi dậy chặn đánh tàn quân Pháp từ Lạng Sơn chạy qua đây để rút về thái Nguyên. Đội du kích được thành lập, lấy súng của tàn quân Pháp, trang bị cho mình. Đêm 27-9-1940 nhân dân Bắc Sơn, với lực lượng khoảng 600 người có vũ trang, chiếm đồn Võ Nhai. Viên Tri châu Bắc Sơn bỏ trốn. Nhân dân làm chủ châu lỵ, lập chính quyền cách mạng.

Tuy Pháp và Nhật mâu thuẫn với nhau, nhưng trước sự phát triển của cách mạng. Chúng đã hoà hoãn để đối phó với cuộc nổi dậy của nhân dân: Nhật thả tù binh Pháp, cho quân Pháp trở lại đóng các đồn bốt Lạng Sơn. Quân Pháp đã thẳng tay đàn áp, khủng bố phòng trào cách mạng Bắc Sơn.

Chúng đốt phá làng bản, dồn dân, giết hại những người tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chỉ tồn tại trong vòng một tháng và diễn ra trong phạm vi một huyện, nhưng có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó mở đầu cao trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam sau khi có chủ trương đấu tranh của Đảng. Cuộc khởi nghĩa để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang, trong việc chọn thời cơ, liên tục tiến công, từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kì (23-11-1940)

Tháng 11-1940, cuộc xung đột vũ trang giữa thực dân Pháp và Xiêm (náy là Thái Lan) nổ ra dọc theo sông Mê-Kông. Thực dân Pháp bắt thanh niên Việt Nam và Cămpuchia đi làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhân dân Nam Kì đã đấu tranh chống bắt lính, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp cũng đấu tranh chống việc đưa họ ra mặt trận.

Trước tình hình đó, Xứ uỷ Nam Kì triệu tập nhiều cuộc họp bàn về phát động nhân dân khởi nghĩa. Kế hoạch dự định, cuộc khởi nghĩa sẽ nổ ra vào ngày 22-11-1940. Xứ uỷ Nam Kì cử đại biểu ra Bắc xin chỉ thị của Trung ương về việc phát động khởi nghĩa.

Từ ngày 6 đến 9-11-1940, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh), do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Hội nghị khẳng định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 là đúng. Hội nghị xác định kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ là đế quốc Phát - Nhật; bởi vì thực dân Pháp đã “tự nguyện làm đầy tớ trung thành cho Nhật trên bán đảo Đông Dương... dựa vào Nhật để đối phó với cách mạng Đông Dương”, còn “Nhật muốn nhân cơ hội Pháp bại trận, nhận lấy một bộ thuộc địa của Pháp...”[9] Hội nghị chủ trương đổi Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thành Mặt trận thống nhất dân tộc chống phát xít ở Đông Dương và “Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mạng thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”[10]. Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác để bảo vệ nhân dân và phát triển cơ sở cách mạng. Đồng thời, Trung ương Đảng chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kì hoãn cuộc khởi nghĩa dự định nổ ra vào cuối tháng 11-1940, vì Nam Kì chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan bảo đảm cho khởi nghĩa tiến hành thắng lợi. . .

Đồng chí Phan Đăng Lưu, Uỷ viên Trung ương Đảng, phái viên của Xứ uỷ Nam Kì ra Bắc xin chỉ thị, được cử trở vào Nam gấp để truyền đạt chỉ thị của Trung ương về việc hoàn cuộc khởi nghĩa. Nhưng khi về đến Sài Gòn (22-11) đồng chí bị bắt. Lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ đã chuyển đến các địa phương nên cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra đúng ngày qui định - đêm 22 rạng ngày 23-11-1940.

Khởi nghĩa nổ ra ở hầu hết các tỉnh Nam Kì từ miền Đông đến miền Tây. Không chỉ có nhân dân mà binh lính người Việt trong quân đội Pháp cũng tham gia khởi nghĩa. Những địa phương nổi dậy mạnh mẽ là Hóc Môn (Gia Định), Cai Lậy (Mĩ Tho), Vũng Liêm (Vĩnh Long)... Chính quyền địch bị tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kì, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện (sau trở thành quốc kỳ của nước ta).

Khởi nghĩa diễn ra hơn 1 tháng (từ 22-11 đến cuối tháng 12-1940). Thực dân Pháp đàn áp dã man: dùng máy bay ném bom tàn sát nhân dân những vùng nổi dậy, giết tại chỗ, bắt tù đày nhiều người. Chúng đã xử bắn các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần để uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân. Không hề nao núng, không chịu khuất phục, dù hi sinh, tổn thất nhiều, nhưng nhân dân vẫn tin tưởng vào Đảng vào Cách mạng. Một số nghĩa quân còn lại rút về Thủ Dầu Một, Bình Thành, rừng U Minh để củng cố lực lượng chờ thời cơ.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kì là biểu tượng lòng yêu nước, tinh thần cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Cuộc binh biến Đô Lương (13-1-1941)

Sự thống trị và đàn áp cách mạng dã man của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật gây nên sự căm phẫn trong nhân dân cả nước, kể cả binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Vì vậy, tiếp theo cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, một cuộc binh biến ở Trung Kì nổ ra, chống lại việc đưa binh lính người Việt sang Lào đánh nhau với quân Thái Lan.

Ngày 13-1-1941 dưới sự chỉ huy của Đội Cung (Nguyễn Văn Cung) và Cai Á, những binh lính yêu nước ở đồn Chợ Rạng (Nghệ An) nổi dậy. Tối hôm đó, họ đánh chiếm đồn Đô Lương rồi lên ô tô tiến về Vinh, dự định phối hợp với binh lính ở đây chiếm tỉnh lị Nghệ An. Nhưng kế hoạch không được thực hiện được, vì quân Pháp đã kịp thời đối phó. Cai Á và nhiều người khác bị thực dân Pháp bắt; chiều hôm sau toàn bộ binh lính tham gia cuộc nổi dậy bị bắt. Đội cung trốn thoát, nhưng đến ngày 11-2-1941 cũng bị bắt và bị xử bắn (ngày 24-4-1941) cùng với 10 đồng chí của ông. Nhiều người khác bị làm khổ sai, đưa đi đày.

Cuộc binh biến Đô Lương nhanh chóng thất bại; vì cuộc nổi dậy tự phát của binh lính không được đông đảo quần chúng tham gia. Tuy vậy, Đảng cộng sản Đông Dương hoan nghênh tinh thần yêu nước của binh lính và kêu gọi quần chúng hưởng ứng, ủng hộ cuộc đấu tranh này.

Như vậy trong tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng, Đảng đã kịp thời chủ trương chuyển hướng cuộc đấu tranh. Trong vòng không đầy bốn tháng kể từ khi quân Nhật xâm chiếm Đông Dương, cả nước đã nổ ra ba cuộc khởi nghĩa. Mặc dù bị thất bại, nhưng “Những cuộc khởi nghĩa Nam Kì, Bắc Sơn, Đô Lương vừa rồi đã tỏ rằng, đồng bào ta quyết nối gót người xưa, phấn đấu hi sinh đặng phá tan xiềng xích.

Việc lớn chưa thành, không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là những cơ hội chưa chín, hai là nhân dân ta chưa hợp lực đồng tâm”[11]



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.4

[2] Lệnh tổng động viên của Toàn quyền Catroux, tháng 9-1939

[3] Philippin

[4] Hồng Kông

[5] Singapore

[6] Nay là Malaysia và Singapore

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 10, tr.208

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đảng Toàn tập, tập 6, tr.536.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, sđd, tập 7, tr.46 và 49

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, sđd, tập 7, tr.49

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.197.

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Đất nước Việt Nam   Lịch sử   Tri thức lịch sử phổ thông   Từ 1930 đến nay   Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
Phong trào dân chủ 1936-1939
Phong trào giải phóng Dân tộc 1939-1945
Mặt trận Việt Minh và công cuộc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Cách mạng tháng Tám 1945 - Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời
“Nghệ Tĩnh đỏ”
Về phong trào Dân chủ 1936-1939
Lê Hồng Phong
Võ Văn Tần
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử
Giáo dục
Du lịch
Nếp sống văn hóa Việt
Tín ngưỡng
Nghệ thuật & Kiến trúc
Lễ hội
Ẩm thực
Lao động sản xuất
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google