Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Nghe lỏm tín hiệu của những...
Sự hình thành các thiên hà và...
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Sự hình thành các lục địa và...
Lịch sử hình thành trái đất
Sinh học và nguồn gốc của sinh...
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Mô hình vũ trụ và "chất đen"
Những người được giải thưởng...
Các nhân tố chi phối sự hình...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây


410

            ĐỘC GIẢ: Trong sách Đất nước Lào - lịch sử và văn hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) tr. 44-45, các tác giả GS Lương Ninh, PGS Nghiêm Đình Vỳ, PGS Đinh Ngọc Bảo có khẳng định rằng từ ''khún'' (trong: Khún Khét, Khún Kan, Khún Bolom, Khún Lo,...) là ''tiếng cổ Đông Nam Á''. Xin cho biết lời khẳng định này có đúng hay không.

            AN CHI: Đó là một lời khẳng định khó chấp nhận. Nó bắt nguồn từ ý kiến sai lầm ban đầu của Trần Quốc Vượng cho rằng ''khun” (mà các tác giả của Đất nước Lào phiên thành “khún”) là một từ chung (= cùng một từ gốc trong ngữ hệ) của nhiều ngôn ngữ Môn-Khmer, Tày-Thái,v.v… (mà các tác giả này đã nói gộp thành “tiếng cổ Đông Nam Á”), phát biểu tại Hội nghị lầ thứ 3 nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương, sau đó được in trong Hùng Vương dựng nước, t.III (Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội, 1973, tr.353-355) dưới nhan đề “Về danh hiệu Hùng Vương”. Thực ra, xuất phát điểm ở đây là một từ gốc Pali mà người Thái và một số tộc người khác ở Tây Bắc Việt Nam đã mượn từ tiếng Lào, còn người Mường thì đã mượn lại của người Thái như sẽ nói ở một phần sau. Trong bài ''Hùng Vương hay Lạc Vương” (KTNN 81, tr3 – 9), Huệ Thiên đã phản bác lập luận của Trần Quốc Vượng và cho rằng đó là một từ Lào bắt nguồn ở danh từ guru của tiếng Pali, có nghĩa là người thầy hoặc người được sùng kính. Huệ Thiên đã viết như sau:

            ''Tiếng Pali guru cho ra tiếng Lào khũn một hiện tượng hoàn toàn đúng quy luật.

            Trước hết, pali g > Lào kh là một hiện tượng phổ biến: gaja > khásá (con voi); gamma > khăm má (bình thường, thông tục); gini > khíní (lửa); gutti > khút, dạng tắt, và khúttì, dạng đầy đủ (sự bảo vệ, sự trông nom); geha> khêhà (nhà); nagara > nákhon (thành Phố, xứ sở), v.v…

            Thứ đến, cũng là bình thường hiện tượng r của Pali, sau nguyên âm của âm tiết trước, trở thành n trong tiếng Lào mà làm thành âm cuối của âm tiết đó khi nào âm tiết tiếp theo của tiếng Pali do nó khởi đầu bị tiếng Lào lược bỏ; sự lược bỏ này nói chung đã cho ra thanh thấp đi lên trong tiếng Lào. Thí dụ: sara > sõn (nguyên âm); sira > siễn (đầu, người đứng đầu); vihāra > vihãn (tu viện, chùa/chiền); ghora > khỗn (quỷ, yêu ma); kesara > kaysõn (nhụy hoa); v.v…”

(KTNN 81, tr.9).

            Hai luật tương ứng ngữ âm mà Huệ Thiên đã nêu ra trên đây là những chỗ dựa để khẳng định nguồn gốc Pali của từ khũn trong tiếng Lào: g(uru) > kh(ũn) (g)ur(u) > (kh)ũn. Từ này đã được Trần Quốc Vượng ghi là ''khun'' còn các tác giả của Đất nước Lào thì ghi là ''khún''. Nhưng thực ra, trong tiếng Lào, nó mang thanh điệu thấp đi lên (ton grave ascendant) nên Huệ Thiên đã tạm ghi một cách quy ước bằng dấu ngã (~) thành khũn để phân biệt với một từ vừa cận âm vừa cận nghĩa nhưng lại hoàn toàn khác gốc với nó là khun, mang thanh điệu ngang (không ghi dấu) và bắt nguồn từ tiếng Pali . Trong tiếng Lào, khun có nghĩa gốc là ân huệ, công đức, rồi chuyển nghĩa để đứng trước một số danh từ chỉ người mà làm cho cách xưng hô trở nên trang trọng, tôn nghiêm. Thí dụ: khun phò (đức Cha), khun mè (đức Mẹ), v.v. trong lối xưng hô của người Công giáo.

            Vậy, tiếng Lào có hai từ vừa cận âm vừa cận nghĩa nhưng lại hoàn toàn khác từ nguyên: khũn < Pali guru khun < Pali . Trong hai từ này, thì khũn mới chính là từ được dùng làm tước hiệu cho một số nhân vật trong truyền thuyết, thí dụ Khũn Borôm, mà Trần Quốc Vượng và các tác giả của Đất nước Lào đã đề cập. Chúng tôi xin đặc biệt nhấn mạnh rằng chẳng những khũn mới có gốc Pali mà ngay cả tên của nhân vật đó là Borôm cũng có gốc Pali: đó không phải gì khác hơn là parama, có nghĩa là tối thượng, tối cao. Và Khũn Borôm chẳng phải gì khác hơn là hình thái Lào hóa của paramnguru (= tối cao tôn sư hoặc tông chủ). Ngay cá cái tên của truyền thuyết về nhân vật này trong tiếng Lào, Nithan Khũn Borôm, thì cũng lại là một cấu trúc mà toàn bộ các thành tố đều có gốc Pali vì ngay cả nithan cũng là một từ Lào bắt nguồn ở tiếng Pali nidāna, có nghĩa là truyện kể.

            Rồi chẳng những khũn mới có nguồn gốc Pali mà nhiều từ chỉ tước hiệu khác trong tiếng Lào cũng có nguồn gốc Pali hoặc Sanskrit, trực tiếp hoặc gián tiếp:

            - phá, có người ghi ''pha'', “phà'' < Xiêm phrá < Sanskrit Pali vara.

            - phánha < Xiêm phrájaa < Sanskrit varya;

            - àtnha < Sanskrit ājñā;

            - đặc biệt, phia thường được ghi thành phìa < Khmer pria < Sanskrit varya.

            Những tước hiệu hoặc tôn hiệu trên đây của tiếng Lào đã đi vào tiếng Thái và ngôn ngữ của một số tộc người thuộc các ngữ hệ khác nhau ở Tây Bắc Việt Nam (nghĩa là đã được những tộc người này vay mượn), làm cho nhiều học giả và chuyên gia cứ ngỡ rằng đó là những từ cùng một cội nguồn chung trong ngữ hệ. Chẳng hạn, khi nói về các từ: phìa, phya, phánhá, á nhá, á nha, át nhá, v.v…, trong tiếng Thái, thì Cầm Trọng, một nhà Thái học người Thái, đã viết như sau: ''Thực ra nếu các tên gọi này chỉ có trong ngôn ngữ Tày - Thái, có lẽ sự chú ý của chúng ta có mức độ. Ngược lại, trong số tên gọi ấy, ta lại bắt gặp ở trong tiếng nói của các dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Malayô-Pôlynêxia, Môn-Khơme, Việt-Mường cổ (...) Điều đó khiến người nghiên cứu suy nghĩ và đi tới một sự nghi vấn: phải chăng chúng có chung một cội nguồn:'' (Thử bàn về ý nghĩa một số thuật ngữ biểu thị hình thái kinh tế - xã hội cổ truyền người Thái và Tày, Dân tộc học, số 3, 1983, tr.61). Thực ra, những từ Thái mà Cầm Trọng đã nêu chính là những từ bắt nguồn ở những từ tiếng Lào mà chúng tôi đã đưa ra ở trên. Vậy tưởng nên trả cho Caesar cái gì của Caesar mà thừa nhận gốc Pali (hoặc Sanskrit) của những từ Lào kia và gốc Lào của những từ Thái này. Sự giống nhau giữa những từ tương ứng về âm và nghĩa trong nhiều ngôn ngữ khác nhau không nhất thiết có nghĩa rằng chúng dứt khoát thuộc về một cội nguồn chung trong ngữ hệ vì đó hoàn toàn có thể chỉ là do vay mượn lẫn nhau mà ra.

            Trở lại với từ khũn của tiếng Lào, xin nói rằng từ này đã đi vào tiếng Thái với hai biến thể ngữ âm là khun cun như đã được ghi nhận trong Từ điển Thái- Việt của Hoàng Trần Nghịch và Tòng Kim Ân (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991). Lại xin nói thêm rằng cả từ tháo của tiếng Lào cũng đã đi vào tiếng Thái dưới hình thái tạo (trong “phìa tạo”) rồi cả hai từ cun tạo của tiếng Thái đã được người Mường mượn để chỉ chức vị trong hệ thống nhà lang của họ: lang cun, dùng để chỉ con trưởng ngành trưởng nhà lang và lang tạo (đã bị ''Kinh” hóa thành ''lang đạo”), dùng để chỉ con trưởng ngành thứ nhà lang, như các nhà dân tộc học đã từng miêu tả.

            Từ trên đây suy ra, Mường (lang) cun < Thái cun/khun < Lào khũn < pali guru, tất nhiên chẳng có liên quan gì đến từ quân  của tiếng Hán mà âm Hán Việt xưa cũng là cun, mà có người cho rằng tiếng Mường mặc đã mượn qua tiếng Việt hoặc mượn thẳng từ tiếng Hán, mặc dù tiếng Mường cũng có trực tiếp mượn từ của tiếng Hán một cách độc lập mà không qua trung gian của tiếng Việt (Về khả năng này của tiếng Mường, xin xem: Nguyễn Văn Tài, Góp thêm tài liệu cho việc đoán định thời điểm chia tách của hai ngôn ngữ Việt và Mường, Dân tộc học, số 3, 1978, tr.23-28).

            Tuy nhiên, xin nhân tiện nói rằng theo chúng tôi thì tiếng Mường cũng có một từ cun gốc Hán và đó là cun trong “choọng Cun”, có nghĩa là dốc Cun, mà Trần Từ có ý muốn gắn với cun trong ''lang cun” (X. Người Mường ở Hòa Bình, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1996, tr.74). Thực ra, cun trong ''lang cun” là một từ Mường gốc Thái như đã phân tích còn cun trong ''choọng Cun" thì lại là một từ Mường gốc Hán, cùng gốc với từ côi của tiếng Việt, có nghĩa là cao, như trong ''côi cả" ''lên côi'', ''trên côi'', v.v… Đây là một từ Việt cổ, vẫn còn tồn tại trong phương ngữ Bắc Trung Bộ với nghĩa là ''trên”. Mối tương ứng ngữ âm Mường cun ~ Việt côi hoàn toàn có thể giải thích được một cách chắc chắn vì âm xưa của côi cui (từ côi trong “côi cút” vẫn ccòn được Đại Nam quốc âm tự vị của Huình-TỊnh Paulus Của ghi là cui) và vì -n cuối của Mường'' ~ -i/j/ cuối của Việt là một điều đã được ngữ âm học lịch sử khẳng định (X. chẳng hạn: Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1995, tr.217). Vậy cun (Mường) ~ côi (Việt) và đây là hai từ gốc Hán bắt nguồn ở một nguyên từ tiếng Hán ghi bằng chữ  mà âm Hán Việt chính thống hiện đại cũng là... côi (Đường vận: ''công hồi thiết''; Tập vận, Vận hội, Chính vận: ''cô hồi thiết”), có nghĩa là to, lớn hoặc dáng trời cao. Và choọng Cun là dốc Côi, nghĩa là dốc Cao: chính Trần Từ đã cho biết rằng ''dốc cao nhất trong tỉnh Hòa Bình được người Mường gọi là choọng Cun'' (X. chỗ đã dẫn).

            Tóm lại, không làm gì có chuyện khun/cun là ''tiếng cổ Đông Nam Á” như các tác giả của Đất nước Lào đã nói. Đó là một từ gốc Pali mà người Lào - và cả người Xiêm nữa - đã vay mượn mà đọc thành khũn rồi các tộc người khác ở Việt Nam mới mượn lại của người Lào một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (= qua ngôn ngữ của một tộc người khác nữa). Cuối cùng xin nhấn mạnh rằng ''tiếng cổ Đông Nam Á'' là một khái niệm rất mơ hồ vì khu vực Đông Nam Á có nhiều ngữ hệ khác nhau và mặc dù nhiều người đã cố gắng xác lập mối quan hệ cội nguồn cho một số ngữ hệ ở khu vực này nhưng đó là một việc làm vội vã vì hai lý do: một là từ nguyên của nhiều từ được sử dụng làm cứ liệu so sánh chưa được xác lập riêng cho nó một cách hoàn toàn chắc chắn và hai là lịch sử của nhiều ngôn ngữ được đưa vào ngữ hệ cũng chưa được khảo tả đầy đủ và thỏa đáng.

            * Các dấu thanh điệu của tiếng Lào ở đây đã được ghi theo: Marc Reinhorn, Dictionnaire laotien-français, CNRS, Paris, 1970. Riêng thanh thấp đi lên thì ghi bằng dấu ngã vì chữ quốc ngữ không có dấu giống như dấu mà Reinhorn sử dụng. Trong một vài dẫn chứng, để cho giản tiện, âm tắc yết hầu cũng đã không được ghi.

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây
Cách dịch tên ''Thành Phố Hồ Chí Minh” của Trường Đại học Mở TPHCM
Lại nói về nguồn gốc của hai tiếng “bánh ít”
"Khún" (Khún Bolom, Khún Lo, v.v.) trong tiếng Lào có phải là ''tiếng cổ Đông Nam Á'' không?
Cách giải thích địa danh Cochinchine của ông Nguyễn Đắc Xuân
Nguồn gốc của hai tiếng “bít tất”.
Về chữ "trát"
Lại nói về hai tiếng “vang bóng”
Xuất xứ của hai câu: Thập niên chi kế, thụ mộc - Bách niên chi kế, thụ nhân.
Nguyên văn bài thơ Con trâu
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google