Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Một số dạng vượn - người và...
Lỗ đen - một vực thẳm không đáy
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Những kính viễn vọng hiện đại
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Những hậu quả của nền văn minh...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Những người được giải thưởng...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây


940

            ĐỘC GIẢ: Trong bài “Về bốn con ngựa cùng kéo một cỗ xe'', đăng trên KTNN số 472, tác giả Lê Vy cho rằng trong câu “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy'' thì tứ mã ''chính là một trong những con ngựa thuộc giòng ngựa Tứ Xuyên'', ''một giòng ngựa hay, tuy nhỏ con nhưng chạy nhanh và dai sức, thường được tuyển làm ngựa trạm”. Tôi ngờ ngợ về cách hiểu này: không biết chữ ''tứ” trong ''tứ mã" và chữ ''tứ'' trong ''Tứ Xuyên" viết có giống nhau hay không?

            AN CHI: Ông ngờ ngợ cũng là phải vì tác giả Lê Vy đã lăng-xê một cách hiểu độc đáo mà ngay cả các nhà làm từ điển của Trung Hoa cũng chưa bao giờ ngờ đến. Từ xưa đến nay, họ chỉ giảng rằng tứ mã trong câu ''Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" là ''bốn con ngựa cùng kéo một cỗ xe'' mà thôi. Lời giảng thì dài ngắn khác nhau nhưng tất cả các quyển từ điển tiếng Hán đều giảng theo cái nghĩa mà chúng tôi vừa nêu. Trình tự cũng có thể khác: hoặc giảng hai chữ tử mã trước rồi mới nêu câu tục ngư tám tiếng, mỗi vế bốn tiếng đó làm thí dụ; hoặc nêu thẳng cả câu tám tiếng đó để giảng, nhưng cũng đều giảng hai tiếng tứ mã theo cái nghĩa đã nói. Ông và bạn đọc có thể tham khảo và kiểm chứng ở nguồn thư tịch mà Huệ Thiên đã nêu rõ trong bài ''Về ''ba chữ còm'' của ông Lê Bầu'', đăng trên KTNN 465 (tr.7-11, mục 3).

            Từ 2.500 năm nay, người Trung Quốc vẫn hiểu như thế; cho nên nói rằng tử chính là ''một con ngựa trong giòng (sic) ngựa Tứ Xuyên'' thì ta tất phải xem xét lại. Quả nhiên là tác giả đã không phân biệt được hai chữ ''tứ”  khác nhau: tứ trong Tứ Xuyên còn tứ trong tứ mã thì lại là . Vì vậy nên ta tuyệt đối không thể lấy chữ sau mà ghi âm ''tứ'' cho địa danh Tứ Xuyên cũng như không thể lấy chữ trước mà ''trám'' vào câu tục ngữ đang xét. Huống chi từ xưa đến nay người Trung Quốc chưa bao giờ gọi tắt tên của tỉnh Tứ Xuyên thành ''Tứ'' vì họ chỉ gọi là Xuyên hoặc Thục mà thôi.

            Chẳng những nhầm lẫn ngay từ đầu như trên, tác giả Lê Vy còn bộc lộ một kiểu lập luận rất ngộ nghĩnh mà chúng tôi xin nêu ra đây để ông và bạn đọc nhận xét thêm.

            Tác giả đã đưa ra hai chữ ''ký'' hoàn toàn lạc lõng để dẫn người đọc đến với cái nghĩa của chữ ''tứ'' mà ông phát hiện. Ông viết:

            ''Chữ ký, ngoài chữ ''ký” có nghĩa là ký thác, uỷ thác, phó thác, gởi... còn có một chữ ''ký" khác tuy đồng âm nhưng lại có nghĩa là một giòng (sic) ngựa tốt, ngựa hay.''

            Ta không thể biết ông căn cứ vào đâu mà đem cái chữ ''ký” là ''ủy thác'', ''phó thác” ra để đối lập với chữ ''ký” là ''ngựa tốt”, ''ngựa hay” khi mà cái kho Hán tự đồ sộ có đến 20 chữ ''ký'' (cố nhiên là với 20 tự dạng khác nhau và mấy chục nghĩa khác nhau). Tại sao không phải ''ký” là ''ghi'', ''nhớ'', hoặc ''ký" là ''mong muốn'', ''trông chờ'', hoặc ''ký" là “đầu lợn'', v.v., mà cứ phải ''ký” là ''ủy thác'', ''phó thác'' mới được?

            Lập luận trên đây chỉ có giá trị nếu tiếng Hán chỉ có vẻn vẹn hai chữ ''ký'' do ông nêu ra mà thôi. Còn đằng này chữ trong câu tục ngữ đang xét lại là , có nghĩa là ''đã''. Nhất ngôn ký xuất là ''một lời đã (trót) nói ra”.

            Nhưng kiểu lập luận dưới đây lại ngộ nghĩnh hơn. Tác giả viết:

            ''Một con ngựa kéo cỗ xe độc mã, bốn con ngựa kéo cỗ xe tứ mã, hai tỷ lệ một trên một bốn trên bốn rõ ràng là ngang nhau.''

            Ngang thế nào được? Một con ngựa kéo một cỗ xe độc mã thì tỷ lệ đúng là một trên một còn bốn con ngựa kéo một cỗ xe tứ mã thì tỷ lệ phải là bốn trên một chứ sao lại ''bốn trên bốn'', trừ phi ta tăng cường thêm ba cỗ xe khác để làm ''rờ-moọc'' đằng sau cái cỗ xe tứ mã kia. Vậy ở đây ta có bất đẳng thức >  chứ không phải cái đẳng thức  vì trong ngữ danh từ xe tứ thì chữ tứ chỉ số ngựa chứ đâu có phải số xe. Vậy bốn con ngựa kéo một cỗ xe phải nhanh hơn một con ngựa kéo một cỗ xe chứ. Ấy thế nhưng tác giả lại dựa vào cái đẳng thức ''ảo” của mình để kết luận:

            ''Do vậy, về chữ ''Tứ” trong vế tiểu đối ''Tứ mã nan truy'', tôi tán thành ý kiến của ông Lê Bầu."

            Nhưng ông Lê Bầu chỉ sai ở chỗ nói rằng tứ là một giống ngựa giỏi không xác định còn ông Lê Vy thì lại sai một cách ''sáng tạo” hơn: giống ngựa giỏi đó là ''đặc sản'' của đất Tứ Xuyên! Thế là chẳng những ông đã sai về chữ Hán và tiếng Hán mà ông còn sai cả về lịch sử của Trung Hoa nữa: lỗi anachronism[1], như sẽ phân tích dưới đây.

                        ''Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy

là một câu tục ngữ mà các học giả Trung Hoa đã nắm rất rõ lai lịch: nó bắt nguồn từ một câu trong Luận ngữ. Hán Đại thành ngữ đại từ điển (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Thượng Hải, 1997) giảng như sau:

            ''Yī- yán jì chù, sì mǎ nán zhuī: Vị thoại dĩ xuất khẩu, vô pháp thu hồi. Ngữ xuất Luận ngữ, ''Nhan Uyên”: Tứ bất cập thiệt”.

(tr.974),

nghĩa là:

            ''Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy: Nói lời đã nói ra thì không có cách gì lấy lại được. Câu này có xuất xứ từ Luận ngữ, thiên ''Nhan Uyên”, với câu ''Xe bốn ngựa không lẹ bằng lưỡi”.

            Rõ ràng ''Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” là một khúc biến tấu trên một chủ đề[2] của Luận ngữ: "Tứ bất cập thiệt." Luận ngữ là một công trình ghi chép những lời giáo huấn hoặc bình luận của Đức Thánh Khổng, dĩ nhiên là có xen vào cả lời của các đệ tử của ngài, mà cụ thể câu ''Tứ bất cập thiệt" ở đây là của Tử Cống. Tử Cống (520 tr.CN - ?) sống vào cuối thời Xuân Thu (770 tr.CN - 476 tr.CN)[3] thì làm sao ông có thể biết đến địa danh ''Tứ Xuyên'' mà ''thắng" ''một trong những con ngựa thuộc giòng (sic) ngựa Tứ Xuyên'' vào câu "Tứ bất cập thiệt"? Vâng, địa danh ''Tứ Xuyên'' mãi đến đời Tống (960 CN - 1279 CN) mới được đặt ra chứ ở thời của Tử Cống thì chỉ có nước Ba, nước Thục mà thôi. Từ hải, bản tu đính 1989, giảng mục ''Tứ Xuyên tỉnh" như sau:

            ''Giản xưng Xuyên hoặc Thục. Tại Trường Giang thượng du (...) Xuân Thu Chiến Quốc thời vi Ba, Thục đẳng quốc địa; Tần trí Ba, Thục nhị quận; Hán thuộc Ích Châu; Đường thuộc Kiếm Nam đạo cập Sơn Nam Đông, Tây đẳng đạo; Tống trí Xuyên Hiệp lộ, hậu phân Ích, Tỷ, Lợi, Quỳ tứ lộ, tổng xưng Tứ Xuyên lộ.

nghĩa là:

            ''(Tỉnh Tứ Xuyên) gọi tắt là Xuyên hoặc Thục, nằm ở thượng du sông Trường Giang. Thời Xuân Thu Chiến Quốc là đất của các nước Ba, Thục, v.v… và đời Tần đặt làm hai quận Ba và Thục; đời Hán thuộc Ích Châu; đời Đường thuộc đạo Kiếm Nam, các đạo Sơn Nam Đông, Sơn Nam Tây, v.v.; đời Tống đặt lộ Xuyên Hiệp, sau chia thành bốn lộ Ích, Tỷ, Lợi, Quỳ, gọi chung là lộ Tứ Xuyên.''

            Sứ sách đã ghi chép như thế nên rõ ràng là “con ngựa thuộc giòng (sic) ngựa Tứ Xuyên'' không có chỗ đứng trong chủ đề "Tứ bất cập thiệt" để có thể phi nước ''đại” vào khúc biến tấu ''Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Phát hiện của tác giả là một cách hiểu sai cả về ba mặt: văn tự, từ ngữ và lịch sử.

            Còn có hay không một ''giòng (sic) ngựa Tứ Xuyên'' mà ông Lê Vy đã dẫn ra từ một lời cước chú không nhớ rõ xuất xứ thì lại không phải là chuyện mà chúng tôi cần bàn đến ở đây.

 



[1] Anachronism: sai sót hoặc mâu thuẫn về niên đại (lịch sử) – Chúng tôi chưa tìm được một cách dịch thật gọn bằng tiếng Việt.

[2] Chúng tôi xin mượn hình ảnh của Cao Xuân Hạo trong bài “Bảy khúc biến tấu trên một chủ đề của Khổng Phu Tử”, bàn về chủ đề “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.”, đăng trên một kỳ Văn nghệ (trung ương), năm 2003.

[3] Theo truyền thống là từ 722 tr.CN đến 481 tr.CN

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây
Về chữ ''cách” trong Kinh Dịch
Nhận xét về Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 3
Tứ mã nan truy: tứ mã không phải là ''ngựa Tứ Xuyên".
Chữ “cò” trong cò nhà, cò đất, v.v., do đâu mà ra?
Nguồn gốc của địa danh ''Cửa Lò".
Nguyên văn bài Khúc giang của Đỗ Phủ và bản dịch của Tản Đà
“Tửu đẩu thập thiên” hoặc “đẩu tửu thập thiên” nghĩa là gì?
Chung quanh việc phân kỳ công cuộc nghiên cứu Truyện Kiều theo kiểu Lê Thanh Lân
Rượn đực hay Rượng đực?
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google