ĐỘC GIẢ: Xin cho biết hai tiếng “ỷ giốc'' nghĩa là gì. Có ý kiến cho rằng đây là hai tiếng Nôm (thuần Việt) và ''giốc” ở đây thực chất cũng là một với ''dốc'' trong ''dốc núi'', ''xuống dốc'', v.v.. Nhưng lại có ý kiến cho rằng đó là hai tiếng Hán Việt. Vậy ý kiến nào đúng?
AN CHI: Hai tiếng mà ông hỏi không phải là "thuần Việt'' và tiếng thứ hai cũng chẳng có liên quan gì đến dốc trong dốc núi, xuống dốc, v.v… cả, vì đây lại là giốc. Đó là hai tiếng Hán Việt mà Hán tự
. Chữ thứ nhất có khi bị nhầm với chữ
còn chữ thứ hai thì cũng có thể viết thành
.
Âm chính xác của chữ
là kỷ (cẩn ỷ thiết) hoặc ky (cát y thiết) chứ dứt khoát không thể là ''ỷ” như một số người đã đọc nhầm rồi lưu truyền cho đến nay. Chữ
là một chữ thuộc thanh mẫu kiến
chứ không phải thanh mẫu ảnh
nên nó phải có phụ âm đầu [k] chứ không phải là ''không có gì''. Sở dĩ có sự nhầm lẫn đó là do thói quen ''vọng tự sinh âm'', như chúng tôi đã nói đến trên KTNN 514 khi cải chính ''A Phòng cung” và ''Tuyên Phòng cung” thành A Bàng cung và Tuyên Bàng cung. Ở đây hoặc người ta đã nhầm kỷ
với ỷ
, hoặc thấy cả hai chữ đều có thanh phù là kỳ
nên mới đọc chữ trước (kỷ) theo âm của chữ sau (ỷ) vì chữ sau thông dụng hơn (nên dễ biết hơn) còn chữ trước thì ít dùng hơn (nên cũng ít người biết hơn). Còn giốc là âm xưa của chữ
mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là giác (như trong giác đấu,
giác trục
, v.v… Giốc cũng chính là tên của một âm trong ngũ âm (cung, thương, giốc, trỉ (thường đọc thành ''truỷ” hoặc “chủy'', vũ), cũng ghi bằng chữ
. Giữa giốc và giác thì giốc xưa hơn vì còn giữ lại được vận [ok] cổ xưa của chữ
mà âm cổ Hán Việt là cốc, vẫn còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại (như trong nâng cốc, cốc bia, cốc kem, v.v.) nếu ta biết rằng giác
còn có nghĩa là một dụng cụ dùng để đựng rượu mà uống, như chúng tôi đã có nói đến trên một kỳ CĐCT.
Tóm lại, âm chính xác của hai tiếng đang xét là kỷ giốc hoặc ky giốc chứ không phải ''ỷ giốc”. Nhưng kỷ giốc (ỷ giốc) nghĩa là gì?
Việt-Nam tự-điển của Lê Văn Đức ghi và giảng như sau:
''Ỷ-giốc. C/g ỷ-giác, có thể dựa vào lấy thế: Thế ỷ-giốc”.
Đây là một lời giảng mơ hồ. Đồng thời đây cũng chỉ là một kiểu vọng văn sinh nghĩa vì, như đã nói chữ
không đọc thành ''ỷ" mà dù có đọc thành ''ỷ" thì nghĩa của nó cũng chẳng phải là ''dựa vào", ''nương tựa", ''cậy thế”. Rõ ràng là tác giả đã nhầm chữ kỷ bị đọc thành ''ỷ" với chữ ỷ
chính cống vì chính chữ này mới có nghĩa là ''dựa vào'', ''nương tự”, ''cậy thế''.
Thực ra thì kỷ
ở đây là bắt lấy chân một con vật còn giốc (giác)
là nắm lấy sừng một con vật. Ta có một thí dụ rất hay - cũng là thí dụ đầu tiên trong thư tịch - trong đó hai tiếng kỷ và giốc cùng được dùng trong một câu. Đó là một câu trong sách Tả truyện (Tương Công thập tứ niên):
''Thí như bộ lộc, Tấn nhân giốc chi, chư Nhung kỷ chi.”,
nghĩa là:
“(Đối với kẻ địch) ta cũng làm như khi bắt hươu, binh lính nước Tấn nắm sừng của chúng còn người Nhung thì nắm chân chúng.''
Chính xuất phát từ ý của câu trên đây mà về sau người ta đã ghép kỷ (ỷ) với giốc thành kỷ giốc (ỷ giốc) để chỉ hành động tấn công kẻ địch từ hai phía (tả, hữu hoặc trước, sau). Từ đây lại phái sinh thêm cái nghĩa ''tách một phần binh lực ra để kìm hãm quân địch hoặc để chi viện cho phe mình''. Trên đây là lời giảng về hai tiếng kỷ giốc, bị đọc thành ỷ giốc, đã cho trong Từ hải, bản tu đính 1989 (Thượng Hải, in lần thứ tư, 1997, tr.789).
Cứ như trên thì cái nghĩa của hai tiếng kỷ giốc, bị đọc thành ''ỷ giốc'', đã cho trong Việt-Nam tự-điển của Lê Văn Đức, chẳng có liên quan gì đến cái nghĩa đích thực của hai tiếng này cả.