Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Những giây phút đầu tiên
Những số liệu chủ yếu
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Ứng dụng khoa học vũ trụ phục...
Một số dạng vượn - người và...
Bối cảnh xuất hiện của con người
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây


231, (KTNN 168, ngày 20-3-1995)

            ĐỘC GIẢ: Trong số đếm của tiếng Pháp, từ số 1 đến số 100, tới số 70, 80 và 90 là soixante-dix, quatre-vingts, quatre-vingt-dix. Đọc các số đếm này ta tưởng chừng như đọc phép toán cộng (60 + 10 = 70), toán nhân (), vừa nhân, vừa cộng (). Xin nhờ ông An Chi giải thích xem tại sao người Pháp có số đếm khéo như vậy?

            AN CHI: Ông có nhận xét rằng khi đọc các số đếm của tiếng Pháp mà ông vừa nêu ta tưởng chừng như mình đang đọc phép cộng, phép nhân hoặc vừa nhân vừa cộng. Thực ra trong tiếng Việt và các thứ tiếng khác cũng có hiện tượng đó. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, mười hai, mười ba, mười bảy, v.v., là những phép cộng: 10 + 2, 10 + 3, 10 + 7; hai mươi, ba trăm, chín ngàn, v.v…, là những phép nhân:   ; năm mươi ba, chín trăm lẻ bốn, hai ngàn không trăm mười lăm, v.v., là vừa nhân vừa cộng: , , . Trong tiếng Hán, thập tam, thập tứ, thập bát... là những phép cộng: 10 + 3; 10 + 4; 10 + 8; nhị thập, tam bách, tứ thiên là những phép nhân: còn nhị thập tứ, tam thập bát, cửu thập lục… là vừa nhân vừa cộng: ;. Trong tiếng Anh cũng thế: forty-one (41), sixty-nine (69), ninety-five (95), v.v., là những phép cộng: 40+1; 60+9; 90+5. Còn one hundred (100) thì đã là phép nhân:  (cũng y như thế trong tiếng Việt: một trăm =). Rồi four hundred and nine (409), eight hundred and seuenty-two (872), là vừa nhân vừa cộng:  

            Ngoài ra, có khi người ta còn trừ để đếm nữa, chẳng hạn trong tiếng La Tinh: duodetriginta (28) là hai (duo) trừ ra khỏi (de) ba mươi (triginta), undequadraginta (39) là một (un) trừ khỏi (de) bốn mươi (quadraginta), undecentum (99) là một (un) trừ đi khỏi (de) một trăm (centum), v.v.. Cũng do lối trừ đi này mà số La Mã mới có những cách ghi chẳng hạn: IV cho 4 (hiểu là một trừ đi khỏi năm), IX cho 9 (hiểu là một trừ đi khỏi mười), XL cho 40 (hiểu là mười trừ đi khỏi năm mươi - L = 50), XC cho 90 (hiểu là mười trừ đi khỏi một trăm - C = 100), CD cho 400 (hiểu là một trăm trừ đi khỏi năm trăm - D = 500) hoặc CM cho 900 (hiểu là một trăm trừ đi khỏi một ngàn - M - 1000).

            Đó là còn chưa kể đến những phép cộng hoặc những phép nhân không nhìn thấy được nữa. Trong tiếng Pháp: onze (11), douze (12), treize (13), v.v., là những phép cộng như thế vì onze là do tiếng La Tinh undecim có nghĩa là một với mười (un = 1, decim = 10), douze là do L. thông tục dodece (L. cổ điển duodecim) có nghĩa là hai với mười (do/duo = 2, dece/decim = 10) còn treize là do L: tredecim có nghĩa là ba với mười (tre = 3), v.v...

            Trong tiếng Anh eleven (11) và twelve (12) cũng là những phép cộng khó nhận ra: eleven có nghĩa gốc là một bị bỏ lại (với mười) còn twelve là hai bị bỏ lại (với mười). Từ 13 (thirteen) đến 19 (nineteen) thì đã dễ thấy hơn: đó là 3, 4, 5, v.v., + 10 (teen là tha hình - allomorph - của hình vị ten = 10). Về phép nhân khó nhận ra thì nhập/nhực   (20), táp  (30), trong tiếng Hán là những trường hợp như thế: nhập là một hình vị ríu của hai hình vị nhị thập (= ) còn táp là hình vị ríu của hai hình vị tam thập (= ). Tương tự, trong tiếng Việt, ham/hăm, bam/băm của khẩu ngữ cũng là những hình vị ríu của các hình vị hai mươi, ba mươi.

            Vậy các hiện tượng mà ông đã nêu không phải là riêng cho tiếng Pháp và ngay trong tiếng Pháp thì cũng không phải chỉ có soixante-dix, quatre-vingts quatre-vingt-dix mới là những trường hợp như thế. Dix-sept (17), dix-huit (18), dix-neuf (19), v.v., cũng và những phép cộng: 10 + 7, 10 + 8, 10 + 9; deux cents (200), quatre mille (4000), un million (1.000.000) là những phép nhân:  ,  còn deux cent dix (210), deux mille deux cent cinquante (2250), v.v…, là vừa nhân, vừa cộng:

            Tuy nhiên, hai trường hợp sau trong ba trường hợp mà ông đã nêu lại có một điểm bất thường so với cách đếm trong nhiều ngôn ngữ quen thuộc khác. Trong hai trường hợp đó (quatre-vingts quatre-vingt-dix), người ta thấy được bội số của 20 chứ không phải và của 10. Sở dĩ như thế là vì ngày xưa tổ tiên của người Pháp đã theo hệ đếm nhị thập phân (vicésimal) thông dụng và phổ biến tại xứ Gaule trước khi xứ này bị người La Mã chinh phục. Sau khi César chinh phục xứ này thì người Gaulois dần dần từ bỏ tiếng mẹ đẻ của họ để nói tiếng La Tinh. Nhưng họ đã không bỏ ngay cách đếm nhị thập phân của tổ tiên họ mà chuyển phương thức đếm đó vào tiếng La Tinh nói tại xứ Gaule rồi hai cách đếm của người La Mã và của người Gaulois đã song song tồn tại trong suốt thời Trung đại. Do đó người ta có thể nói: trente et deux (ba mươi và hai) hoặc vingt et douze (hai mươi và mười hai) cho 32; quarante et trois (bốn mươi và ba) hoặc deux vingt et trois (hai hai chục và ba) cho 43; sent cinquante et huit (một trăm năm mươi và tám) hoặc sept vingts et dix-huit (bảy hai chục và mười tám) cho 158; cent vingts (một trăm hai mươi) hoặc six-vingts (sáu hai chục) cho 120; trois cents (ba trăm) hoặc quinze-vingts (mười lăm hai chục) cho 300. Những văn bản viết tay ngày xưa vẫn được đánh số trang theo hệ đếm nhị thập phân. Chẳng hạn để đánh số trang 138 người ta đã ghi VI.XX.XVIII (= 6 lần 20 cộng 18). Ở París, nay còn có bệnh viện mang tên là Quinze-Vingts () vì là nơi vốn do Thánh Louis tạo lập để đón tiếp 300 người.

            Cuối cùng xin nói thêm với ông rằng ngày xưa ngoài soixante-dix, quatre-vingtsquatre-vingt-dix, tiếng Pháp còn có setante/septante để chỉ 70, oitante/huitante để chỉ 80 và nonante để chỉ 90 trong đó chúng ta cũng thấy được hình vị -ante như đã thấy trong quarate (40), cinquante (50) và soixante (60).

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Trí tuệ Nhân loại   Hỏi đáp Đông-Tây
Xuất xứ của câu ''Hãy trả lại cho César những gì của César''.
Tại sao ''a đổ'' hay ''a đổ vật'' lại là tiền?
Đặc điểm của một vài số đếm trong tiếng Pháp và các thứ tiếng khác
Về chữ ''Phúc'' dán ngược trước cửa nhà
''Cây thước vàng'' là cây thước gì?
Chung quanh hai câu cuối của bài thơ ''Hoàng Hạc lâu”
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google