Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Một số dạng vượn - người và...
Các nguồn năng lượng mới
Những biện pháp phóng ngừa...
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Lỗ đen - một vực thẳm không đáy
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Một sự kiện hiếm có: những...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Lịch sử Thế giới Vạn năm   Thế giới Trung đại   Vương quốc thần thánh bước sang vương quốc thế tục


I

Văn hóa phục hưng

1. Phục hưng văn hóa ở Italia

1. Từ đầu thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, xã hội phong kiến ở các nước châu Âu ở trong thời đại vĩ đại sôi động và chuyển biến. Giai cấp tư sản mới nổi lên giương ngọn cờ “Phục hưng nền văn hóa cổ điển” dấy lên phong trào văn hóa mới, chống phong kiến, chống thần học như triều dâng sóng dậy, khí thế mãnh liệt trên các phương diện văn học, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị, khoa học tự nhiên và triết học.

2. Năm 1550, trong tác phẩm nổi tiếng Truyện về các nhà hội họa, điêu khắc và kiến trúc nổi tiếng của nhà nghệ thuật Vasari ở Italia, lần đầu tiên nêu ra từ “Văn hóa Phục hưng” ông cho rằng sự phồn vinh của văn hóa Tây Âu ở thế kỷ XI, XVI là sự “tái hiện” “phục hưng” của nền văn hóa cổ đại Hy Lạp, La Mã. Từ đó về sau, phong trao giải phóng tư tưởng vĩ đại bèn lấy tên là “Văn hóa phục hưng”.

3. Phong trào Văn hóa Phục hưng ra đời sớm nhất ở Italia vào cuối thế kỷ XIV. Hồi đó, các địa phương như Florence, Venise, Gêne, Milan đã sớm xuất hiện công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, có các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp và ngân hàng tương đối phát triển. Trong thế kỷ XIV, Florence có khoảng 200 công trường dệt dạ, đoạn, có khoảng 3 vạn công nhân dệt len các nghề dệt, làm thuỷ tinh và đóng thuyền ở Venise phát đạt hơn cả. Trong hình vẽ là phong cảnh Florence ngày nay.

4. Nhưng sự phát triển tư bản chủ nghĩa đâu phải là thuận buồm xuôi gió. Italia hồi đó chia năm xẻ bảy, phát triển không đều, miền Bắc là những quốc gia thành thị và vương quốc nhỏ độc lập miền Nam bị các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha xâm lược, nô dịch, miền Trung còn tồn tại Vương quốc Giáo hoàng làm trở ngại cho sự thống nhất quốc gia. Những tình hình đó đều gây trở ngại cho sự phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự hình thành thị trường thống nhất trong nước.

5. Việc phát triển, khai thông đường hàng hải mới đã mở rộng tầm nhìn cho con người, tạo ra những điều kiện để sản sinh một thế giới quan mới. Kỹ thuật làm giấy, in ấn của Trung Quốc được truyền bá có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc được bảo tồn, phiên dịch và lưu truyền các tác phẩm cổ điển. Các nền văn hoá Ả Rập, Bizantin được truyền vào Tầy Âu đã trực tiếp cung cấp cho nền Văn hóa Phục hưng, góp phần thúc đẩy việc xây dựng mới các trường Đại học Tây Âu và đã cung cấp nguồn tri thức cho trường sở để truyền bá văn hóa thế tục.

6. Chủ nghĩa nhân văn là tư tưởng hạt nhân của Văn hóa Phục hưng, phản ánh những đòi hỏi của giai cấp tư sản. Chủ nghĩa nhân văn đề xướng lấy con người làm trung tâm, lấy “nhân ảnh”, “nhân đạo”, “nhân quyền” để phản đối “thần tính”, “thần đạo” và “thần quyền” của giáo hội; họ ca tụng cuộc sống thế tục, hưởng thụ của cuộc đời hiện tại, phản đối chủ nghĩa cấm dục, quan niệm tái thế, đề xướng lý tính khoa học, phản đối chủ nghĩa mông muội, chủ nghĩa thần bí.

7. Văn hóa Phục hưng của Italia trước sau chia làm hai thời kỳ: thời kỳ đầu từ thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV, thời kỳ sau từ cuối thế kỷ XV đến thế kỷ XVI, Văn hóa Phục hưng thời kỳ đầu của Italia đã thai nghén nền văn hóa của giai cấp tư sản Tây Âu cận đại, những nhân vật đại biểu của thời kỳ này là Dante Alighieri, Petrarque (Petrarca) và Boccaccio[1].

8. Nền văn hóa của giai cấp tư sản đoạn đầu ở Tây Âu được thai nghén từ thời kỳ quá độ khi chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa, có những đặc trưng mang tính thời đại.

9. Dante sinh năm 1285 ở thành Florence của Italia. Thời niên thiếu, ông đem lòng yêu cô thiếu nữ Beatrice, 9 năng sau ông lại gặp nàng, lúc đó Beatrice đã lấy chồng. Khi hai người gặp nhau, Beatrice tay cầm bông hoa hồng cố che giấu sự lúng túng của mình, Dante thì đứng ngây ra ở bên đường, tay ấn vào tim đau nhói. Năm 1290, Beatrice qua đời. Với nỗi niềm thương tiếc nàng, Dante đã viết bài thơ Cuộc đời mới.

10. Thần khúc, một tác phẩm tiêu biểu của Dante, bao gồm ba chương: Địa ngục, Ngục luyện rèn, Thiên đường, mỗi chương có 33 bài thơ, thêm 1 bài thơ tựa ở đầu, hợp thành 100 bài thơ. Thần khúc kể lại chuyện một thi sĩ nằm mộng thấy mình lạc trong rừng sâu đen tối, gặp phải những con báo, sư tử, sói cái (những con vật tượng trưng cho sự yên vui, dã tâm và tham dục) đứng chắn đường, thi sĩ đã hô to kêu cứu, trước hết có Virgilius (tiếng Pháp Virglile), nhà thơ ca La Mã, sau đó là Beatrice dẫn nhà thơ đi du lịch cả ba thế giới. Hình ảnh dưới đây là những bức họa trong Thần khúc.

11. Thần khúc dùng thủ pháp ẩn dụ tượng trưng để biểu hiện những đau cua xã hội hiện thực, bóc trần sự tham lam, hoang dâm của Giáo hoàng, cha cố, viện trưởng, nhà tu; Judas (Giuđa) đem bán Jésus nên bị giam vào tầng đáy thấp nhất của địa ngục; mấy vị Giáo hoàng bao gồm Boniface VIII và Giáo hoàng tiền nhiệm và giáo hoàng đang tại chức; Clément V đều bị nhốt vào tầng địa ngục thứ tám; những vua chúa sáng suốt thì được nhà thơ sắp xếp vào hàng ngũ lên thiên đường.

12. Năm 1302, Dante bị các thế lực đối địch bức hại, bị ghép vào tội tham ô và chống lại Giáo hoàng, do đó bị tịch thu toàn bộ gia sản, kết án lưu đày chung thân, không được phép về nước, nếu không sẽ bị hỏa thiêu. Dante bị đi đày hơn 20 năm; năm 1321 chết ở Ravenna. F. Engels nói: “ông là một thi sĩ cuối cùng của thời kỳ Trung đại, đồng thời lại là thi sĩ đầu tiên của thời đại mới”. Hình vẽ là mộ của Dante.

13. Một nhà thơ khác của Florence kế sau Dante là Petrarque, ông có những đặc trưng nhân văn chủ nghĩa tươi sáng hơn từng giành danh hiệu “Nhà thơ có vòng nguyệt quế”. Tác phẩm của ông là Ca tập, ca tụng tình yêu trong sáng của một thi sĩ với cô gái Laura. Từ đây đã khơi dậy và mở đầu cho thơ trữ tình cận đại của châu Âu. Ông được gọi là “Người cha của chủ nghĩa nhân văn”. Trong tác phẩm Bí mật ông nói: “Tôi là một phàm nhân, tôi chỉ yêu cầu hạnh phúc cho những phàm nhân mà thôi”.

14. Petrarque phản đối tình trạng chia cắt của Italia, khát vọng Italia lại trở nên cường thịnh như La Mã cổ đại. Ông đặt hy vọng phục hưng quốc gia dựa vào phong trào phục cổ. Ông sưu tầm những bản sao và văn hiến cổ đại, ra sức mô phỏng những tác phẩm của người xưa, mở ra một phong cách mới cho những người yêu chuộng văn hóa cổ điển. Tử đó làm cho họ kiên định tư tưởng nhân văn chủ nghĩa đối lập với giáo hội và triết học kinh viện thời Trung cổ.

15. Giovanni Boccaccio cùng với Dante và Francesco Petrarca (tiếng Pháp: Pétrarque) được liệt vào hàng tam kiệt văn học của văn hóa Phục hưng thời kỳ đầu. Tác phẩm nổi tiếng của ông truyện mười ngày bao gồm 100 truyện ngắn, đề tài đề cập hết sức rộng rãi về nhiều lĩnh vực, có những chuyện truyền kỳ mạo hiểm của các thương nhân ở các nơi, có truyện thần thoại và truyện dân gian, nhưng nhiều nhất là những hiện tượng tác giả tự quan sát thấy và viết ra. Các tác phẩm của ông đã bóc trần những tội ác của giáo hội, sự ngu xuẩn của bọn quý tộc, ca tụng sự cao cả của tình yêu và trí tuệ của những người bình dân. Hình vẽ là trang bìa trong bản truyện mười ngày.

16. Vào thế kỷ XV phong trào Văn hóa Phục hưng xuất hiện rất phồn vinh, rực rỡ và phát triển tới cao trào, có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những phương pháp của chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa hiện thực phát triển đến giai đoạn cao hơn; nghệ thuật hội họa, kịch bản văn học mới ra, triết học và khoa học kỹ thuật mới đầu giành được nhiều thành tựu nổi bật. Giai đoạn bừng sáng của Văn hóa Phục hưng đã bắt đầu.

17. Italia đã xuất hiện ba nhân vật “khổng lồ”[2] cự phách về nghệ thuật nổi tiếng nhất: Leonardo da Vinci (tiếng Pháp Léonard de Vinci), Michelangelo (tiếng Pháp Miche-Ange) và Raphaello (tiếng Pháp: Raphaël), chính các vị này đã đưa Văn hóa Phục hưng tới cao trào. Tác phẩm của ba vị đều có những đặc sắc riêng: Leonardo da Vinci ẩn chứa sự mượt mà tinh tế, sâu sắc; Raphaello thì nhã nhặn, tươi đẹp, Michelangelo thì hùng tráng, hào phóng.

18. Leonardo da Vinci sinh năm 1452 ở thị trấn Vinci gần Florence. Năm 1466, phụ thân đưa ông đến xưởng họa của Pietro Perugino, một họa sĩ nổi tiếng, để học vẽ. Thầy giáo bảo ông vẽ quả trứng, và nói với ông “Trong một nghìn quả trứng, hoàn toàn không có hai quả trứng giống nhau, chỉ như một quả, đứng ở góc độ khác nhau để quan sát, hình dạng vẽ ra cũng khác nhau”. Vì thế Leonardo da Vinci rất chăm chỉ để vẽ từng quả trứng.

19. Khoảng năm 1476, Perugino đã vẽ bức họa Jésus tắm, khi bức họa hoàn thành, ông bảo Leonardo da Vinci vẽ thêm thiên sứ bổ sung ở bên trái bức họa. Thiên sứ dưới bút vẽ của Leonardo da Vinci hết sức sinh động, hoạt bát hình tượng giống như thật, còn nhân vật của thầy dậy vẽ thì đơn điệu, ngây ngô, so vào thì thấy thua xa. Thầy dạy nhìn bức họa của Leonardo da Vinci rất kinh ngạc, thán phục hết lời, từ đó ông gác bút không vẽ nữa.

20. Bữa tiệc cuối cùng một tác phẩm lớn của Leonardo da Vinci, là bích họa về nhà ăn của Tu viện Saint Marya ở Milan. Nội dung của bích họa lấy từ một câu chuyện trong Kinh Thánh. Bức họa diễn tả tình cảm của tất cả những người ngồi bên bàn ăn khi Jésus tuyên bố: “Có một người trong số ngồi ở đây muốn bán ta”. Bức bích họa này vinh dự được coi là “tác phẩm quý giá nhất trong những tác phẩm hội hoa vĩ đại nhất”, “một tảng đá tôn cao nghệ thuật châu Âu”.

21. Những tác phẩm hội họa của Leonardo da Vinci đều chặt chẽ cẩn thận, nghiêm túc. Viện trưởng tu viện không hài lòng vì sự tiến triển chậm chạp, đã đưa cáo trạng tới Công tước Milan. Leonardo da vinci nói với Công tước: “Hiện trong bức họa còn thiếu hai cái đầu, một cái của Jésus, một cái của Judas, tôi đã tìm mãi hình dáng của cái đầu sau ấy mà không sao tìm được, muốn mượn cái đầu của vị viện trưởng gây rối này”. Công tước nghe nói cả cười. Viện trưởng nọ sợ quá lủi mất, không dám đến nữa.

22. Leonardo da Vinci đã từng đi tìm khắp các phố lớn, ngõ nhỏ, nhằm tìm cho được bộ mặt của Judas. Một hôm, Vinci đi trên phố thấy một tên quan cưỡi ngựa ngỏng cao đầu ra roi đánh một người phụ nữ nghèo khổ không tội vạ gì. Vinci quan sát từ đôi mắt ngu xuẩn và dã man nằm dưới cặp lông mày ngang bằng của hắn, phô cái mũi cố chấp, ngạo mạn cùng khóe miệng cười độc ác và ưa ăn uống hưởng thụ, tương phản với cái yếu đuối suy nhược của người phụ nữ nghèo đã làm cho hắn cảm thấy sung sướng một cách man rợ. Thế là ông đã tìm thấy hình tượng Judas phản Chúa - một tên bỉ ổi nhất, tàn nhẫn nhất.

23. Nhà khoa học lịch sử Danbier nói: “Nếu chúng ta chọn một người tiêu biểu cho tinh thần chân thực của Văn hóa Phục hưng thì chúng ta nhất định sẽ chỉ ra đó là con người vĩ đại Leonardo da Vinci”, Vinci có tri thức uyên thâm, đa tài đa nghệ, trên các lĩnh vực như hội họa, điêu khắc hình học kiến trúc, giải phẫu, máy móc đều đã lên tới đỉnh cao sáng tạo. Hình ảnh ở đây là Lược đồ binh khí và hình vẽ giải phẫu cơ thể con người của Leonardo da Vinci.

24. Michelangelo được tôn xưng là “nhà điêu khắc vĩ đại nhất”, là một họa sĩ, là kiến trúc sư và thi sĩ trứ danh “có thiên tài tài vĩ đại lưu truyền muôn đời”. Hội họa của Michelangelo cũng là điêu khắc và nặn tượng, ông nói: “Hội họa chỉ là khi càng tiếp cận tốt hơn với phù điêu, mới coi là tác phẩm đẹp được”. Đây là tác phẩm Thương nhớ Kitô của Michelangelo.

25. Tác phẩm nổi tiếng nhất của MichelAngelo là bức họa trên trần Nhà thờ Sáng tạo thế giới và bức họa Phán xét cuối cùng ở Thánh đường Sistine. Ông đã dành 4 năm rưỡi từ năm 1508 đến năm 1512 để sáng tác Sáng tạo thế giới gồm cả thảy chín câu chuyện của Kinh Cựu ước. Sau khi bức họa hoàn thành, thân thể ông đã biến đổi kỳ dị, đầu hướng lên trời muốn nhìn một vật gì phải lấy tay đỡ đầu mới có thể nhìn rõ được, sức khỏe của ông bị tổn hại nghiêm trọng.

26. Năm 1534, Giáo hoàng Paul III (Farnèse) lại yêu cầu ông sáng tác Phán xét cuối cùng, Michelangelo đã hoàn thành trong thời gian 7 năm. Trong bức họa, hình tượng Jésus còn trẻ, quần chúng tụ tập hai bên là những nhân vật lõa thể; điều đáng chú ý là phía dưới Jésus có một thánh đồ tay phải cầm dao, tay trái giơ lên một tấm da người, hình chiếc đầu ở phía trên tấm da người là chiếc đầu tự họa của Michelangelo. Trong hình vẽ Phán xét cuối cùng ở bên là hình thành đồ giơ tấm da người.

27. Một hôm, Paul III đến xem bức họa, Giáo hoàng hỏi Saisna, viên quan coi việc lễ nghi, rằng: “Ông thấy tác phẩm này thế nào?” Saisna trả lời: “Vô si quá chừng, sao lại vẽ những thân hình trần truồng bên cạnh thánh thể thế này?”, Michelangelo sau khi nghe, phẫn nộ đã vẽ luôn viên quan coi việc lễ nghi với cái tai lừa rất dài, thân hình con rắn lớn cuốn lại, đó là viên phán quan Mino bị nhốt dưới địa ngục. Viên quan coi lễ nghi một lần nữa yêu cầu giáo hoàng bắt vẽ lại, nhưng cũng chẳng ăn thua gì.

28. Raphaello (tiếng Italia: Raffaeno Sanzio) được tôn xưng là “thánh hoạ sĩ” từ nhỏ được giáo dục tốt. Năm 1504, ông đến Florence - cái nôi của phong trào Văn hóa Phục hưng. Lúc đó Leonardo da Vinci đã hoàn thành bức họa Mona Lisa. Bức tượng khác đá David, Người bảo vệ vĩ đại của Michelangelo đã đứng hiên ngang trên quảng trường Xiniorya. Raphaello chân thành học tập những bậc thầy nghệ thuật lớn lao, nghiền ngẫm mô phỏng những tác phẩm của họ. Ông đặc biệt khâm phục tài năng của Leonardo da Vinci.

29. Tác phẩm cực lớn Trường Athènes của Raphaello là bức bích họa ở cung Giáo hoàng Roma. Trong bức họa này, Platon giơ tay chỉ lên trời (tượng trưng thuyết ý niệm), Aristote giơ tay hướng về mặt đất (biểu hiện hiện thực), hai người đàng hoàng bước vào đại sảnh Héraclite tay úp trán đang trầm tư, Zénon đầu bù xù mớ tóc sẫm hồng, đang đứng một mình; Socrate mặc bộ quần áo màu cây trám đang chuyện trò với một người còn có cả Archimède tay cầm chiếc compa.

30. Tác phẩm của ba nhà nghệ thuật cự phách đều phản ánh chủ đề “con người”: bức hoạ Mona Lisa của Leonardo da Vinci cấu tạo nét thanh xuân của một thiếu phụ trong đời thường, còn những bức họa về người phụ nữ giai cấp tư sản của Vinci thì lại có ý nghĩa sâu sắc; Người bảo vệ vĩ đại của Michelangelo lại thể hiện hình tượng có thân hình khỏe mạnh của một thanh niên đầy nam tính với lý tưởng cao đẹp và sức lực vô cùng tận.

31. Raphaello được gọi là “họa sĩ Thánh Mẫu”, ông vẽ hình tượng thánh mẫu đoan trang, ôn hòa, nhu mì, khỏe mạnh và thuần khiết, là người mẹ trong lòng đầy những niềm vui sướng và hạnh phúc nhân gian. Plékhanov nói: “Hình tượng Thánh Mẫu của Raphaello là một trong những biểu hiện nghệ thuật nổi bật nhất của lý tưởng thế tục chiến thắng lý tưởng của đạo Kitô và tu viện”. Tranh ở trên là Thánh Mẫu trong vườn hoa của Raphaello.

32. Machiavelli cũng lại là một nhân vật lỗi lạc trong thời kỳ Văn hóa Phục hưng Italia. Năm 1469, ông ra đời trong một gia đình quý tộc đã phá sản ở Florence, từ nhỏ hiếu học, chịu khó nghe nhiều và trí nhớ rất vững. Năm 1494, nhân dân Florence khởi nghĩa lật đổ sự thống trị của gia tộc Médicis, lập ra nước Cộng hòa. Trong thời gian 1495 đến 1512, Machiavelli tham dự công tác ngoại giao và quân sự của nước Cộng hòa.

33. Năm 1512, gia tộc Médicis dựa vào quân xâm lược Tây Ban Nha đánh vào Florence, lấy lại được chính quyền. Machiavelli mất chức vụ, đóng cửa ngồi viết sách. Về sau, bọn thống trị Médicis để cho ông đảm nhiệm một chức quan lại. Năm 1527, nhân dân một lần nữa lại khởi nghĩa lật đổ sự thống trị của Médicis, những người Chấp chính của nước Cộng hòa không tín nhiệm Machiavelli nữa, ông phiền muộn rồi qua đời.

34. Machiavelli là người đặt nền móng cho học thuyết chính trị của giai cấp tư sản, được tôn xưng là “cha đẻ của chính trị học”, đã viết: Luận bàn về chế độ quân chủ, Lịch sử Florence. Ông cho rằng phải có một nhân vật lãnh tụ vĩ đại mới cứu vãn được những hy vọng của quốc gia. Ông chủ trương người thống trị có thể không dùng thủ đoạn để đạt được mục đích, về mặt ngoại giao phải dựa vào thực lực, không cần tuân theo sự tín nghĩa và những lời hứa.

2. Mở rộng phong trào văn hóa phục hưng

1. Phong trào Văn hóa Phục hưng lan truyền, mở rộng ra cùng với sự nảy sinh và lớn lên của chủ nghĩa tư bản ở các nước Tây Âu. Sau thế kỷ XV trào lưu tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn lan truyền tới Thụy Sĩ, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nederland và Anh. Kỹ thuật làm giấy, kỹ thuật in ấn được áp dụng và cải tiến được mở rộng cùng với việc xuất hiện ấn loát bằng kim loại chữ rời và máy in chữ trên cả hai mặt giấy, từ đó đã đẩy mạnh sự phát triển của phong trào Văn hóa Phục hưng.

2. Trào lưu tư tưởng Văn hóa Phục hưng của Italia rất nhanh chóng vượt qua dãy núi Alpes, nở hoa kết trái ở nhiều khu vực của châu Âu. Nhà nhân văn chủ nghĩa trứ danh nhất Érasme (Erasmus) trong tác phẩm Tán dương những kẻ ngu muội nổi tiếng và hài hước của ông với bút pháp thâm thúy và ngôn ngữ sắc bén, đã chế giễu Giáo hoàng, Giáo chut, tăng lữ, đã gây được những ảnh hưởng tích cực đối với phong trào cải cách tôn giáo của nước Đức.

3. Đại biểu kiệt xuất của chủ nghĩa nhân văn nước Pháp là François Rabelais[3], bộ tiểu thuyết dài Chuyện những người khổng lồ (Gargantua và Pantagruel) được lấy từ những chuyện dân gian làm gốc, ông đã dùng thủ pháp khoa trương miêu tả Quốc vương khổng lồ Gargantua và con trai ông ta Pantagruel một chàng trai đẫy đà, đã đánh bại bọn xâm lược như thế nào để xây dựng nên tu viện Thélème (Têlem). Từ đó, ý đồ tác giả muốn nêu lên tín điều: “hãy làm việc mà anh mong được làm” đó là mộng tưởng xây dựng một xã hội tốt đẹp. Hình ảnh trên là một bức tranh trong Chuyện những người khổng lồ.

4. Bộ tiểu thuyết đã lột trần những hủ bại của xã hội nước Pháp, như quan tư pháp Mèo mặc áo dài, khoác chiếc đẫy to sống bằng hối lộ, phá hoại, hủy diệt tất cả. Tác phẩm ca tụng sức mạnh của con người, nói lên tri thức có thể vũ trang cho con người trở thành những người khổng lồ, nhờ đó có thể chiến thắng được ngu muội và đen tối. Tác giả gửi gắm hy vọng vào những người tri thức được nuôi dạy tốt và nhà vua thống trị hiền minh.

5. Don Kihote (tiếng Pháp: Don Quichotte) của nhà văn Cervantes[4], Tây Ban Nha, nói về nhân vật chính Don Kihote, một kỵ sĩ rất mê say quyết tâm khôi phục đạo đức kỵ sĩ, bắt chước các kỵ sĩ cổ đại đi chu du thiên hạ, bênh vực những người bị ức hiếp kết quả đã gây ra rất nhiều chuyện cười, chịu đựng biết bao gian nan mới có thể tỉnh ngộ. Tác phẩm miêu tả một cách sâu đậm đời sống sinh hoạt của xã hội Tây Ban Nha đương thời, nó đã lên án giai cấp thống trị đương thời, gửi gắm sự đồng cảm sâu sắc đối với những khổ đau của quần chúng nhân dân.

6. Thời kỳ cuối của phong trào Văn hóa Phục hưng, trong văn học nước Anh nổi bật lên những thành tựu về kịch. Shakespeare[5] là nhà viết kịch, nhà thơ, nhà nhân văn chủ nghĩa vĩ đại của nước Anh. Ông xuất thân trong một gia đình buôn bán, đã từng làm tạp dịch ở sàn diễn, diễn viên và biên soạn kịch. Cả đời ông đã sáng tác nhiều vở bi, hài kịch và kịch lịch sử, cả thảy là 87 tập và rất nhiều thơ ca.

7. Những tác phẩm của ông đã miêu tả sâu sắc và rộng rãi xã hội nước Anh, miêu tả sự xung đột của các lực lượng xã hội trong thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở nước Anh; đề xướng giải phóng cá tính, phản đối những trói buộc của phong kiến và những gông cùm của thần quyền. Tình tiết của những tác phẩm kịch của Shakespeare sinh động, phong phú, ngôn ngữ điêu luyện, tươi tắn, nhã nhặn, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển văn học và kịch bản của châu Âu. Hình ảnh bên là mô hình kịch trường điển hình ở thời đại Shakespeare, nơi đây đã có nhiều vở kịch của Shakespeare được trình diễn.

8. Những vở bi kịch vĩ đại của Shakespeare như Romeo và Juliette, Hamlet, Othello đã đi sâu vào lòng người. Vở Hamlet viết về chuyện con vua Đan Mạch, Hamlet đã giết chết người chú thoán vị, trả thù cho cha, còn tự mình cũng chết trong vòng đao kiếm, Hamlet là hình tượng điển hình của những người nhân văn chủ nghĩa thời kỳ Văn hóa Phục hưng. Đây là vở bi kịch phản ánh sâu sắc bộ mặt thời đại, có ý nghĩa chống phong kiến mãnh liệt. Hình vẽ là một cảnh trong vở Romeo và Juliette.

9. Chàng thương gia thành Venise là một trong những vở kịch vui của Shakespeare, nó có ý châm biếm xã hội rất phong phú. Nội dung miêu tả của vở kịch này là chàng thương gia ở Venise vay tiền của Sailoc, một người Do Thái cho vay nặng lãi, để giúp cho những người bạn tốt Bassanio, Antonio, nhưng anh ta chưa thể trả tiền đúng kỳ hạn, Sailoc đòi cắt một tảng thịt trên người Antonio; người vợ chưa cưới của Bassanio, Porcia đóng vai luật sư đấu trí với Sailoc, kết cục Antonio thắng kiện.

10. Ngà 23-4-1616, Shakespeare từ biệt cõi đời ở Stratford quận Warwick thuộc quê hương ông. Thi thể được an táng tại Nhà thờ 31. Về sau, hằng năm đúng ngày đó, dòng người tới viếng mộ ông không ngớt. Bà Sdare, một nhà văn Pháp nói: “Xưa nay chưa có một dân tộc nào có tình cảm sâu sắc như người nước Anh đối với Shakespeare, một nhà văn hóa như vậy”. Hình ảnh trên phía bên trái là nơi ở cũ của Shakespeare.

11. Thời kỳ Văn hóa Phục hưng, khoa học tự nhiên cũng hưng khởi, trong đó thành tựu lớn nhất là thiên văn học. Thời kỳ này đã xuất hiện ba nhà khoa học vĩ đại nhất là Copernicus, Bruno và Galilée[6]. F. Engels nói: “Tác phẩm Bàn về sự vận động của các thiên thể của Copernicus là bản tuyên ngôn độc lập” của khoa học tự nhiên được giải phóng khỏi thần học tôn giáo”.

12. Tiếp sau Bruno và Galilée, nhà thiên văn học kiệt xuất nước Đức Képler đã kế thừa Thuyết Mặt trời là trung tâm của Copernicus, giải thích rõ những quy luật cơ bản về sự vận hành của các hành tinh xung quanh Mặt trời. Trên cơ sở những tư liệu của Tycho Brahé[7], một nhà thiên văn học Đan Mạch, ông nêu ra quỹ đạo vận hành của các hành tinh là hình bầu dục, Mặt trời ở trên một tiêu điểm của hình bầu dục, đã đột phá thuyết quỹ đạo hình tròn của Copernicus.

13. Képler còn đưa ra những luận chứng vẽ số học đối với tính không đồng đều của tốc độ vận hành của các hành tinh, ông tự hào nói rằng: “Từ cõi sâu nhất của linh hồn, tôi chứng minh nó là chân thực, tôi với tâm tình vui sướng khó mà tin nổi đã thưởng thức được cả cái đẹp của nó”. Quả vậy, đối với một nhà khoa học mà nói, có cái gì có thể phấn khởi hơn khi làm cho thành tựu khoa học tiến thêm một bước nữa.

14. Harvey[8], nhà sinh lý học bác sĩ của nước Anh bị một số kẻ quá khích gọi là “thằng mất trí”, “kẻ điên cuồng” ông đã từng cùng với Quốc vương (Harvey là ngư y) quan sát con gà lớn lên trong quả trứng. Ông cũng đã từng “giải phẫu cơ thể sống nhiều lần”, năm 1628 ông công bố công trình Bàn về sự vận động của máu trong tinh, nêu ra lý luận về sự tuần hoàn của máu, làm sáng to quy luật vận động của tim.

15. Trong lĩnh vực triết học, Francis Bacon (1561-1626) của nước Anh là một nhân vật quan trọng. Phụ thân của Bacon là đại thần giữ ấn tín của Elizabeth I, từ nhỏ ông thường ra vào nơi cung đình, tiếp thu nền giáo dục tốt ấy, 12 tuổi vào trường Đại học Cambridge. Elizabeth đã tiếp kiến ông, gọi ông là “Đại thần thiếu niên giữ ấn tín”. Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông thường đến Paris theo đại sứ ở Pháp, đã đi du lịch, quan sát nhiều nơi ở nước Pháp.

16. Bacon từ lúc 23 tuổi đã bước vào con đường quan chức, đã từng đảm nhiệm các chức Nghị viên của Nghị viện, Phó kiểm sát trưởng, Đại thần giữ ấn tín, Chánh án tòa án; có thể nói, con đường quan trường của ông khá thuận lợi, về sau bị chỉ trích là lạm dụng chức quyền và nhận hối lộ, bị tụt dần xuống, ông nén lòng nghiên cứu văn học và triết học. Tác phẩm của Bacon rất phong phú, trong đó về những tác phẩm triết học có hơn 30 tập, như Công cụ mới, Tiến triển của học thuật...

17. Bacon phản đối triết học kinh viện, chủ trương phản ánh luận về duy vật luận. Ông cho rằng, triết học mới phải quy nạp, thực nghiệm và thực dụng, phải được xây dựng trên những thành quả nghiên cứu của khoa học. Ông đòi hỏi nghiên cứu tự nhiên một cách khách quan và cho là phương pháp chủ yếu của nhận thức tự nhiên là thực nghiệm. Marx gọi ông là “Thủy tổ chân chính của chủ nghĩa duy vật và toàn bộ khoa học thực nghiệm hiện đại của nước Anh”.

18. Trong Văn hóa Phục hưng còn cần phải đề cập tới “Giáo hoàng Văn hóa Phục hưng”. Năm 1447, Nicolas V được tuyển chọn làm Giáo hoàng. Trong thời gian tại chức, ở cung đình ông đã thu nạp nhiều nhân vật ưu tú là những nhà nhân văn chủ nghĩa, các nhà nghệ thuật, nhà ngôn ngữ học, kiến trúc sư, đã chỉnh lý, thu thập, phiên dịch nhiều sách cổ điển, sáng lập Thư viện Vatican. Ông được gọi là “Giáo hoàng Văn hóa Phục hưng” thứ nhất.

19. Năm 1513, Jean de Médicis được chọn làm Giáo hoàng, gọi là Léon X, ông là vị “Giáo hoàng Văn hóa Phục hưng” cuối cùng. Thời thống trị của ông đã thu nạp rộng rãi nhân tài vào trong giáo đình, sáng lập Đại học Roma, thu thập rất nhiều tác phẩm cổ điển, ông giao tiếp mật thiết với những người thầy nghệ thuật vĩ đại Michelangelo và Raphaello, tạo ra những điều kiện sáng tạo cho họ. Ông còn cho xây dựng Nhà thờ lớn Saint. Hình vẽ bên trái là đỉnh vòm nhà thờ Saint Pierre do Michelangelo thiết kế.

20. Phong trào Văn hóa Phục hưng chiếm địa vị rất quan trọng trong lịch sử châu Âu. Nó là cuộc vận động văn hóa mới của giai cấp tư sản có tính chất mở đường thời đại. Những người thầy vĩ đại của Văn hóa Phục hưng đã giương cao ngọn cờ nhân văn chủ nghĩa, quét sạch ý thức thần học tôn giáo và phong kiến, thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật, triết học và khoa học - kỹ thuật. F. Engels gọi họ là “những nhân vật đặt nền móng cho nền thống trị của giai cấp tư sản hiện đại”.

Phụ chú.

Một số danh nhân và nhân vật lịch sử trong thời kỳ văn hóa phục hưng

Dante Alighieri (1265-1321)

Dante (Danté) là đại thi hào nước Italia, sinh ra ở thành Florence trong một gia đình dòng dõi quý tộc. Theo gương ông cha, ông cũng tham gia Đảng Guenph, một đảng chủ trương thống nhất nước Italia dưới ngọn cờ của Giáo hoàng, đối lập với Đảng Gibơlanh thân Đức. Đương thời, ông vừa học trong nhà trường, vừa học thêm tiếng Pháp, tiếng Florence, La tinh. Năm 15 tuổi đã làm nhiều thơ trữ tình. Năm 18 tuổi, ông gặp lại người quen cũ là Beatrice (Bêatơrixơ) và đem lòng say mê cô gái yêu kiều đó. Sau nàng lấy chồng và chết vào năm 1290, để lại vết thương lòng không thể nào hàn gắn đối với nhà thơ, và nàng đã trở thành nguồn thi ca trong suốt đời ông. Sau đó, ông dốc sức vào nghiên cứu thần học, triết học và thiên văn học. Vốn là người ham hoạt động chính trị, năm 1300, ông được bầu vào Hội đồng thủ lĩnh thành phố gồm sáu vị. Đến năm 1302, ông bị vu cáo ăn hối lộ một khoản tiền lớn, nên phải chịu án bị trục xuất khỏi Florence hai năm, sau nâng án thành suốt đời. Đến ngày 10-3-1302, ông lại bị xử tử hình vắng mặt trên giàn lửa vì đã không nộp khoản tiền phạt như tòa tuyên án. Từ đó, Dante phải sống lưu vong ở nhiều thành phố thuộc miền Bắc và Trung Italia. Đến năm 1316, chính quyền Florence ra điều kiện nếu Dante thừa nhận tội lỗi thì được trở về quê, song ông kiên quyết từ chối. Trong suốt thời gian này, ông vẫn tiếp tục sáng tác thơ ca và viết luận văn chính trị. Ông qua đời ngày 14-9-1321 tại Raven, một thành phố thuộc Bắc Italia.

Các tác phẩm của Dante gồm có: Cuộc sống mới (1292 - 1293), Bàn về việc sử dụng ngôn ngữ thông tục (1305), Bữa tiệc (1307-1308), Căngđônie, Bàn về chế độ quân chủ (1318), và kiệt tác Thần khúc (1313-1318). Chỉ với một Thần khúc, Dante đã được F. Engels coi là con người khổng lồ, là nhà thơ cuối cùng của thời Trung cổ và nhà thơ đầu tiên của thời đại mới. Bản trường ca Thần khúc được viết bằng tiếng Italia, gồm ba phần, 100 ca khúc và 14.226 câu thơ với hình thức hoàn toàn hư cấu, hoang đường. Ở đây, tác giả đặt mình ở ngôi người dẫn chuyện, kể chuyện, thuật lại quá trình xuống địa ngục, qua tĩnh thổ tẩy oan và lên chín tầng thiên đường. Thông qua cuộc du ngoạn tượng trưng đó, Dante đã trình bày những quan niệm về niềm tin tôn giáo, triết học, niềm vui và nỗi khổ trần tục, cuộc sống thực tại và ý niệm về cõi hư vô có ý nghĩa tổng kết nhiều phương diện của văn hóa Trung cổ. Mặt khác, thi phẩm cũng hé mở những suy tưởng về cuộc sống trần thế, những khát vọng đời thường, những dấu hiệu của văn hóa - văn học thời đại Phục hưng.

Francesco Petrarca (1304-1374), nhà thơ lớn Italia

Francesco Petrarca (Frăngxexcô Pêtơrarca) là nhà thơ Italia thời Phục hưng. Cha ông làm Công chứng viên của Tòa án, người xứ Florence, Vì hoạt động chính trị, nên cha ông bị trục xuất khỏi xứ này. Năm 1312, gia đình ông rời Italia sang sống ở Avignon, một tỉnh thuộc miền Nam nước Pháp. Tại đây, cha của Petrarca được nhận chức Bí thư cho Giáo hoàng. Từ nhỏ, Petrarca đã học tiếng La tinh và La Mã, ham thích văn học, không chịu khuôn theo ngành tư pháp mà gia đình mong muốn. Năm 1326, cha mẹ của Petrarca qua đời, ông từ trường Đại học Bologne ở Italia trở về Avignon, nhận chức Giáo sĩ mà Giáo hoàng ban cho. Tình cờ, vào một buổi đi lễ nhà thờ, viên Giáo sĩ trẻ Petrarca đã gặp và làm quen với nàng Clara có một vẻ đẹp u buồn, ốm yếu. Trái tim nhà thơ đã bị mũi tên tình ái làm cho trúng thương. Tiếc thay, cô gái ấy chưa kịp được nghe lời tỏ tình từ viên Giáo sĩ đang thầm yêu dấu thì đã bị bệnh tật cướp đi. Hình ảnh của nàng biểu hiện cho vẻ đẹp trong trắng, toàn vẹn đã theo nhà thơ đi suốt cuộc đời, để rồi làm nên những vần thơ tuyệt đẹp. Năm 1341, Petrarca đã sáng tác những bài thơ tình tặng nàng Lôrơ, thực chất đây là tình cảm dành tặng cho nàng Clara xấu số. Những bài thơ này đã làm cho Petrarca nhanh chóng nổi tiếng, được cả nước Italia cũng như nhiều nước cộng hòa biết đến với lòng cảm phục sâu sắc. Ông đã được mời đến cung điện Capitol để nhận vòng hoa nguyệt quế - một giải thưởng trao tặng cho nhà thơ kiệt xuất của nước Italia. Thơ và uy tín của nhà thơ được hoan nghênh ở khắp mọi nơi. Các nước Cộng hòa mời ông đến thăm và làm việc, muốn ông ở lại cộng tác với họ. Đức Giáo hoàng La Mã Clément VI mời ông làm Bí thư, nhưng ông không nhận lời. Năm 1351, ông gặp Boccaccio (Bôcaxiô). Hai tài năng và tư tưởng lớn gặp nhau, đã mau chóng trở nên đôi bạn thân thiết.

Các tác phẩm của ông tạm chia ra làm hai loại: những tác phẩm thơ ca và những tác phẩm thuộc về đạo đức triết học. Ở loại thứ nhất, ngoài tập CHÂU PHI (1338-1342,) còn có Êpitơrơ (Thư bằng văn vần) và tập thơ trữ tình tuyệt diệu nhan đề Căngdonie. “Căngdonie” có nghĩa là “Cuốn sách của những bài ca” được viết ra bằng tiếng Italia, chia làm hai phần: Nàng Lôrơ khi còn sống và Nàng Lôrơ sau khi qua đời. Đây là những vần thơ thấm đượm nồng nàn hơi thở cá nhân, những đắm say, đau khổ của mối tình đầu vừa thanh cao vừa trần thế. Nhà thơ đã đưa cái tôi trữ tình vào thơ ca, một cái tôi rực rỡ và khỏe khoắn, đối chọi với những sự bóp nghẹt tâm hồn con người của xã hội phong kiến bảo thủ.... Loại tác phẩm thứ hai của Petrarca là “những danh nhân, coi thường cuộc đời”. Cả hai tác phẩm có tính đạo đức triết học này nhằm đề cao chủ nghĩa nhân văn, quyền sống, khao khát tự do của con người cá nhân, lên tiếng chống lễ giáo hà khắc khổ hạnh của Cơ đốc giáo. Cuối đời, ông viết vài tác phẩm nữa, song không quan trọng. Riêng trong lĩnh vực thơ, Petrarca đã có công giải phóng thơ trữ tình ra khỏi luật lệ quy phạm thần bí, trừu tượng, đưa đến cho chúng sự tươi mới của cảm xúc cá nhân. Ông được suy tôn là cha đẻ của thơ trữ tình châu Âu, là một trong những người khai sinh ra thời đại Văn hóa Phục hưng châu Âu. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đặt bên cạnh những tên tuổi lớn của nhân loại.

Giovanni Boccaccio (1313-1375)

Giovanni Boccaccio (Giôvanni Bôcaxiô) là nhà văn xuất sắc Italia thời Phục hưng. Sinh ra trong một gia đình thương nhân ở thị trấn Xectandô thuộc tỉnh Tôxcan. Mẹ là người Pháp. Thuở nhỏ học ở Florence. Vốn say mê khoa học và văn học, ông không tha thiết với nghiệp kinh doanh mà người cha định hướng. Năm 1330, người cha gọi Boccaccio về và gửi đến Naples học ngành luật, nhưng ông chẳng mấy quan tâm tới nghề thầy cãi. Sau khi cha mất, ông bỏ học và kết bạn và những người hoạt động văn học nghệ thuật. Nhờ bạn bè giới thiệu, ông được nhận vào làm trong triều đình Rôba Angjiu, một nhà vua yêu thích văn học và có nhiều cảm tình với giới trí thức. Ở đây ông làm quen với Công chúa Maria Acvinơ, và tình yêu đã thúc đẩy ông sáng tác tập Philôxtơrat, với những bài xonnê đầy diễm lệ. Khoảng năm 1340-1341, ông trở lại Florence và dấn thân tham gia hoạt động xã hội, sau hoàn thành nhiều công vụ ngoại giao và được tin dùng. Thì năm 1351, Boccaccio kết thân với nhà thơ Petrarca (1304-1374), người tiếp nối chí hướng nhà khai sáng Dante, người thực hiện đặt nền móng cho cả dòng thơ trữ tình châu Âu, và quan hệ thân thiện với nhiều nhà trí thức lớn khác. Vào năm 1373, theo yêu cầu của vương chủ thành Florence, ông giảng thơ Dante trước đông đảo công chúng. Ngoài sáng tác văn học, Boccaccio còn quan tâm viết nhiều công trình khảo cứu bằng tiếng Latinh.

Các tác phẩm chính của Boccaccio có: Philôxtơrat (tập thơ, 1338); các trường ca Têđêit, Ảo ảnh tình yêu; truyện thơ Phiêdôlanô, các tập truyện Philôcôlô Phiametta, Đêcamêrông, truyện Con quạ...

Trên thực tế, mặc dù sáng tác cả thơ, trường ca, truyện, song truyện mới chính là thể loại đem lại cho Boccaccio niềm vinh quang chói sáng. Truyện Phiametta (1348) kể về mối tình tuyệt vọng của nàng Phiametta với chàng Păngphilô, gồm một lời mở đầu và chín chương. Truyện được viết theo lối tự thuật. Tác phẩm khơi gợi bi kịch tình yêu của người phụ nữ với nghệ thuật khảo sát, miêu tả, phân tích tâm lý sâu sắc, có ý nghĩa đặt nền móng cho dòng tiểu thuyết tâm lý xã hội ở châu Âu. Đến tập truyện Đêcamêrông, Truyện mười ngày (1350-1353) xuất bản lần đầu năm 1471 gồm tới 100 truyện. Dựa trên cơ sở kho tàng truyện dân gian Italia, Boccaccio đã sáng tạo nên hệ thống các truyện có màu sắc dân dã, gần với đời sống thường ngày, thể hiện như là bước chuyển của tư duy văn học Trung cổ tới Phục hưng, mở đầu cho một thời đại văn học mới.

Leonardo da Vinci (1452-1519)

Mọi từ điển bách khoa, danh nhân, lịch sử mỹ thuật, lịch sử thế giới, lịch sử văn hóa, khi nói đến tên Leonardo, đều bắt đầu bằng những câu: một trong những người vĩ đại” (Yves Renouard), “Ông là linh hồn của thời kỳ Phục hưng” (Carl Grimberg), “Leonardo là ngọn cờ đầu của phong trào Phục hưng, một nghệ sĩ toàn diện lỗi lạc, một nhà bác học, phát minh được xem là một khuôn mặt đặc sắc nhất của thời đại” (André Chastel)...

Leonardo da Vinci, con của một luật gia ở Florence, sinh tại làng Toscane da Vinci năm 1452. Khi còn trẻ, ông đến làm việc và học việc tại xưởng họa của Andréa Verrocchio ở Florence. Vừa tròn 30 tuổi đời, ông đã hoàn thành bức Adoration des rois mages mang nhiều tính tư tưởng và tính sáng tạo trong hội họa về bố cục, màu sắc, cách thể hiện sáng tối, v.v...

Tuy còn trẻ, nhưng vì kiến thức rộng, nên Leonardo da Vinci đã có những quan hệ rộng rãi với các nghệ sĩ lớn các danh nhân, triết gia và nhiều nhà văn lỗi lạc đương thời. Ông nghiên cứu và đi sâu trong mọi lĩnh vực, từ những tư tưởng triết học của Paris, các thành phố lớn như Padoue, đến những phát minh khoa học, vật lý, địa dư...

Ông bỏ Florence đến Malino gặp Ludovic le More và nhận tạc bức tượng Sporza - François, cha của Ludovic.

Lẽ ra Leonardo bắt tay ngay vào công trình, thì ông đã bỏ ra gần 16 năm chỉ để nghiên cứu các giống ngựa và kỹ thuật đúc đồng (Carl Grimberg: Histoire Universelle, tập 5, tr. 288).

Cùng thời gian ấy, ông tiến hành vẽ bức La Vierge aux rochers. Ở tác phẩm này, ông đã thành công trong chủ đề tư tưởng “néoplatonicien”, một chủ trương triết học tìm cái đẹp từ những gì siêu hình tiềm ẩn trong tâm hồn con người. Ông đã áp dụng phương pháp Sfumato để tả nhân vật ẩn hiện trong cảnh tranh tối tranh sáng của hang. Ông dùng sáng tối cùng độ đậm, nhạt tôn sự nhẹ nhàng, huyền ảo, sinh động cho hình họa, do đó lột tả được những sâu lắng nội tâm của nhân vật. Luôn luôn ông lấy đôi bàn tay của nhân vật như Saint Jean Baptiste hoặc các nhân vật trong tranh Lacène khi đưa lên, khi chỉ vào không gian như phân giải một điều gì mà con người phải chịu bất lực trước thiên nhiên.

Ông luôn luôn khám phá, muốn giải phóng cho con người đang bị trói buộc bởi ngay sự hạn chế của kiếp con người, ví dụ tạo ra đôi cánh để con người có thể bay được, những máy có thể kích những trọng lượng to lớn mà sức người không làm được, ông nghĩ đến những chiếc dù giúp con người có thể nhảy từ trên cao xuống, những máy có thể nhân công suất con người, những chiếc búa cộng lực để công phá thành. Tất cả những ý đồ ấy, ông ghi thành hình vẽ có kèm chú thích hoặc hướng dẫn việc thi công.

Ông là một họa sĩ, nhưng tranh của ông không phải là mục đích cuối cùng của sự nghiệp của ông, mà ông chỉ dùng tranh nhằm mục đích đi tới những phát minh mới về bố cục, nội dung tư tưởng, tâm trí con người và màu sắc, và cũng chính vì vậy, các tranh do ông muốn thí nghiệm nhiều hóa chất trong việc tạo ra những màu vẽ mới, nên những tranh này phần nhiều bị xuống màu, có khi bị hỏng như tranh La Cène, một bức tranh rất nổi tiếng (Carl Grimberg: Histoire Universelle, tập 5, tr. 290).

Ông lấy tranh để nói lên cái đối lập luôn luôn tồn tại của vật thể, cái đang sống và cái đang chết, cái góc của sự diệt và sự sinh (tranh vẽ bằng phấn đỏ một người già đối mặt với một người trẻ), tranh nghiên cứu về bộ phận sinh dục phụ nữ, thai nhi nằm trong dạ con của người mẹ, ông tìm sự sống tiềm ẩn trong cây cỏ, đá, nước, v.v…

Tranh của ông là lời ghi lại những phát hiện rất khoa học như tranh nghiên cứu cùng một con ngựa trong hai tư thế, một choãng chân, thứ hai chụm chân, hai tay dang thẳng... đều nằm gọn trong một vòng tròn, và một hình vuông... mà tâm của hình tròn là rốn của người ấy..., hoặc hai đường cắt góc của hình vuông đều đi qua bẹn của người ấy.

Ông là họa sĩ đầu tiên đặt ra khoa cơ thể học, nghiên cứu cấu tạo của các cơ bắp, để có thể diễn tả các động tác của con người. Ông lột da mặt của các xác chết để nghiên cứu các cơ bắp ở mặt, ở má, ở cằm đã tạo ra cái cười, cái vui, cái buồn, cái khóc của con người.

Trên một tranh, ông vẽ mặt một người mẫu nhìn nghiêng với tất cả những ghi chú ở góc tranh, tỷ lệ giữa các bộ phận tai, mũi, mồm, mắt, ông ròng dây rọi để tìm ra quy luật và bố cục giữa sống mũi và môi trên, của hố mắt và mép môi, của vành tai và hốc mắt, v.v... Dù chưa phải là những tranh hoàn chỉnh, hoặc chỉ là những ký họa..., ông vẫn luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu nội tâm và chiều sâu tâm linh của con người.

Tranh của ông là một thế giới hội nhập giữa cái hữu hình cụ thể và cái siêu hình huyền bí, luôn luôn ở những tờ tranh nghiên cứu ấy dù có ghi chú, và có một điều ông không bao giờ tiết lộ là ông viết ngược vì ông thuận tay trái. (Comme pan les notes de ses cahiers écrites à l'envers car il était gaucher ét tenait au secret” – Yves Renouard: Presses Universitaires de France, tr. 889). Suốt một cuộc đời ông luôn luôn tìm tòi, và cái tìm tôi lớn nhất của ông là ông đã đánh giá được cái hữu hạn bé nhỏ của con người trước cái vô hạn lớn lao của tạo hóa, và đi đến một kết luận: “Dù con người có đạt đến một nền khoa học nào đi nữa, con người cũng không bao giờ hết quằn quại xót xa về cái bé bỏng của mình trước tạo hóa”.

Ông luôn luôn nhắc lại câu Non-finito (Cái vô tận) và ở các tranh nghiên cứu của ông bỗng có những nét rối tung lên (gọi là entrelacs) nói lên tâm trạng, hoặc đặt ra một câu hỏi về cái không khám phá được của con người trước Vũ trụ, cái hoài bão đồng thời là cái bất lực của những phát minh và thành công nhất thời của nó. Ông ở lại Milano một thời gian dài, nhưng vẫn không bao giờ hoàn thành được bức tượng đúc đồng của cha Ludovic, mà cuối cùng chỉ nặn xong bức tượng ấy bằng đất nung mà thôi (L’art dans l'histoire de l’homme -Larousse, chương 25, tr. 225).

Ludovic đặt ông nhiều công việc như vẽ mẫu quần áo dạ hội, trông nom việc đào kênh, kiến trúc sư, thiết kế những công trình quân sự, mặc dù năm 1482 Leonardo có viết cho Ludovic một bức thư trong ấy ông từ chối không nhận mình là một kỹ sư về quân sự, mà chỉ là một nghệ sĩ, họa sĩ, điêu khắc mà thôi, có thể đó là vì Leonardo khiêm tốn từ chối, vì theo những nhận xét của Ludovic, ông này đánh giá Leonardo da Vinci như một tài năng xuất sắc về những phát minh, sáng chế các công trình quân sự.

Ludovic giao ông vẽ bức bích họa La Cène (1495-1497) tại phòng ăn của nhà thờ Santa Maria del Grâce Milano. Phòng ăn tuy hẹp, không gian hạn chế, nhưng Leonardo đã biết áp dụng luật viễn cận vẽ đức Jésus trước khung cửa sổ mở ra một khung trời thoáng rộng, tạo ra một chiều sâu cho nhân vật chính, bố trí các Thánh tông đồ trải ra hai bên người Chúa, trao đổi với nhau về lời Chúa phán bảo, do đó Leonardo sáng tạo những nét mặt suy tư của từng Thánh tông đồ, không khí bức tranh sống động và do đó đã tạo một không gian rộng lớn cho phòng ăn nguyên bé hẹp.

La Cène theo định nghĩa của tự điển Le petit Rohert, gốc La tinh là Céna bằng bữa ăn tối, bữa ăn mà Chúa Jésus dùng cùng với mười hai Thánh tông đồ trước lễ Passion tại cung Cénacle, nơi dâng lễ Eucharistie, lễ rước Thánh thể và máu Chúa vào người.

Nội dung buổi lễ được giáo dân hiểu chỉ gói gọn trong yêu cầu trên, nhưng ở tranh của Leonardo, La Cène không như mọi người quan niệm, mà ông đã đề cập đến một khía cạnh hoàn toàn mới của Kinh Tân ước. Chúa ngồi ở giữa, tay trái, tay của trái tim đặt ngửa giữa bàn..., tay phải lật sấp cùng lời Người đã phán ra: “Ở trong số các người có một người sẽ phản ta. Người đó là ai?”. Câu nói ấy của Chúa gây những phản ứng khác nhau trên từng khuôn mặt của các Thánh tông đồ, từ phải sang trái, từng nhóm ba người, chia nhau kinh ngạc, nghi ngờ, đau xót và căm giận. Nhân vật trong tranh có nhiều cử chỉ tả đúng tính tình của người dân Italia (Carl Grimberg, tập 5, tr. 290: L’Art de la Renaissance Italienne).

Leonardo đã chọn một hình ảnh khá điển hình, một tình huống mà sự phản bội ẩn giấu như một đợt sóng ngầm nguy hiểm để cảnh tỉnh mọi người trước hoàn cảnh chính trị rối ren của nước Italia lúc bấy giờ, mà nhà thờ Cơ đốc giáo cũng như niềm tin có nguy cơ bị đe dọa. (L’Art dans l'histoire de l’homme - Larousse, tr. 235).

Cũng đề tài này, bích họa của Andréa del Castagno vẽ năm 1445-1450 ở Saint Apollonia - Florence, lại khô khan, không sinh động, và cũng vì luật viễn cận mà không gian của cung Cénacle trở nên bé hẹp. Bức tranh không những không đề cập đến nội dung tư tưởng của chủ đề, mà ngay cả bố cục, phân bố họa tiết, cách thể hiện cũng khô cứng, không chú ý đến nội tâm của nhân vật.

Chương trình làm việc của Leonardo da Vinci chồng chéo lên nhau; năm 1483, lúc ông đang vẽ bức La Vierge aux rochers cũng là thời kỳ ông tiến hành bức La Damme à l’hérmine... và chân dung Cecilia Gallérani, Le Portrait d’un musicien. Chính trong thời gian này, ông lại nghiêng về nghiên cứu những công trình kiến trúc. Ông tham gia đề án nhà thờ Milano và nhà thờ Pavie (1487). Trong thời gian vẽ bức La Cène, ông nhận trang trí lâu đài Sala delle Asse. Bắt đầu từ năm 1490, ông viết tập Traité de la Peinture và nhiều nguyên lý về nghệ thuật khác. Tháng 2-1500, ông đến Mantoue và vẽ chân dung Isabelle d'este, và đến tháng 4 cũng năm ấy ông đến Venise tham gia công trình phòng ngự chống quân Thổ Nhĩ Kỳ! Đến năm 1503, ông nhận vẽ bức La Bataille d’Anghiari cho lâu đài Palazzo Vecchio. Trong thời kỳ này, từ 1503 đến 1507, ông vẽ Mona Lisa (La Joconde).

Ông chuyển sang giúp César Borgia trong việc xây dựng các công sự, và pháo đài vào những năm 1503-1504.

Ông quay về Roma, Julien de Médicis, anh của Giáo hoàng Léon X, giao cho ông thiết kế nhà thờ Saint Pierre. Ông nhận làm những công việc không nằm trong một chuyên nghề nào của ông, miễn là giúp ích con người chiến đấu với thiên nhiên. Ví dụ ông nhân cộng tác làm rút nước đầm lầy Pontins.

Trong tất cả các chân dung của Leonardo da Vinci, bức La Joconde là bức tranh được mọi người xem là đạt nhất, và cũng là tác phẩm được lưu lại hoàn hảo nhất.

Tuy vậy, bức La Joconde đã phải trải qua nhiều gian truân (theo tài liệu Quid do Nhà xuất bản Robert Laffont, tr. 386): có khả năng Leonardo da Vinci đã vẽ hai bức La Joconde - một do vua François mua vào năm 1517 với giá 4.000 florin vàng, hiện ở Bảo tàng Louvre, bức thứ hai có thể nằm trong một ngân hàng ở Lausanne, hiện đang còn được xác minh. Theo tài liệu của tự điển Larousse, tranh này được vẽ trên gỗ (Larousse, tr. 1432, xuất bản năm 1993). Trình bày ở Bảo tàng Louvre bị ăn cắp vào năm 1911, và hai năm sau (1913) được tìm lại ở Florence (Carl Grimberg: Histoire Universel). Người phụ nữ trong tranh có tên là Lisa Ghéraretini, lúc bấy giờ độ 25 tuổi, vợ của một luật gia ở Florence tên là Francesco del Joconde.

Dù là một chân dung, Leonardo da Vinci vẫn dùng nền là một phong cảnh có đá, núi và suối. Đó là một phong cách mà Leonardo da Vinci thể nghiệm gần như trong tất cả các tranh chân dung của ông và đã có những thành công nhất định.

La Jonconde là một bức tranh gây nhiều tranh luận: nhiều câu hỏi được đặt ra, nhiều lý giải đáp, nhưng cho đến nay mọi người xem tranh vẫn luôn luôn muốn hiểu Mona Lisa đã nghĩ gì trong đôi mắt, nụ cười kia là một nụ cười vui hay buồn, hóm hỉnh hay khinh miệt, một cái gì chỉ thoáng qua trong tâm hồn nàng vô định đã được Leonardo bắt được và ghi lại trên tranh. Đôi bàn tay gác lên nhau nói lên một điều gì dó đang lắng đọng trong tâm hồn nàng, những ngón tay nuột nà, dáng lửng lơ, không nắm không mở như buông lửng theo một suy nghĩ vô tận... Và ở mặt, ở tay, chủ tâm diễn đạt mặt và đôi tay của nhân vật, vẫn là điều mà Leonardo muốn diễn đạt như ông đã nói: “Hình khối (Le modelé) đó là điều quan trọng nhất, và đó cũng là linh hồn của hội họa”.

Xem tranh La Jonconde nên lưu ý cái nụ cười vô định kia đã được ghi lại thành hình khối của đôi má lúm đồng tiền và đôi mắt đưa ngang vừa nhìn vừa cười, vừa suy nghĩ, đôi mi mắt mọng kéo dài của con người thông minh và đa tình..., một người trong tranh như sống mãi với người xem tranh, vì mọi người đứng trước La Joconde đều tự đặt câu hỏi: “có phải nàng là như vậy chăng?”

Leonardo đã để ra gần bốn năm để hoàn thành bức chân dung này, nhưng không rõ nguyên nhân vì đâu người chồng của Mona Lisa không thuận mua bức tranh.

Nhân năm 1516, vua Pháp François I qua Italia đã đón ông về Pháp. Ông đưa sang Pháp một số tác phẩm của ông: La Vierge ét Sainte Anne, Saint Jean Baptiste, La Joconde... cùng một số tranh ký họa và nghiên cứu.

Vua François mời ông về ở lâu đài Ambroise và ông mất tại đó năm 1519, để lại niềm tiếc thương và mến mộ cho triều đình và nhà vua Pháp.

Leonardo da Vinci để lại nhiều tác phẩm đang vẽ dở dang, không có nghĩa là ông không muốn hoàn thành tác phẩm, nhưng có lẽ bức tranh không đạt đúng điều ông thai nghén và ấp ủ. Qua những nhận xét ghi lại ở các tranh trên, Leonardo đã viết lại nhiều câu hỏi, suy nghĩ lạ lùng không mấy ai tưởng tượng được, và cũng vì thế những bức tranh dở dang kia lại có nhiều giá trị lịch sử đặc biệt không những về nghệ thuật mà còn về tư tưởng của một học giả vĩ đại.

Ông khuyên mọi người cần phải học ở các sách cũ của người xưa, cần phải học hỏi nhiều ở thiên nhiên...

Người ta xem ông là một kỹ sư đã thực hiện những kỳ quan to lớn về khoa học một cách nghệ thuật... cùng là nghệ thuật của một họa sĩ, đã bằng hội họa nói lên khả năng trí tuệ lớn lao của con người.

Họa sĩ TRẦN DUY

Những con người “khổng lồ” của lịch sử

Thiên tài cũng phải có thời, cũng phải biết đấu tranh.

- Con đường đưa hội họa từ nghề thủ công “đầy tớ” thành “nghệ thuật tự do”.

- Hội họa là một “cosa mentale”(sự vật trí tuệ).

Buổi hoàng kim của thời Phục hưng là Cinquecento (theo tiếng Italia có nghĩa là “năm trăm”, tương đương với thế kỷ XVI), đó là thời của Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphaello, gián, Correge Giorgione, Dupré, Holbein cùng nhiều bậc thầy kiệt xuất khác. Leonardo da Vinci, Michelangelo và Raphaello là những nghệ sĩ được mệnh danh là những nhân vật bán-thần (demi-dieu). Người ta vẫn còn băn khoăn với câu hỏi vì sao trong cùng một thời, tại cái bán đảo hẹp ấy lại có thể nảy sinh nhiều đấng vĩ nhân như thế? Khó có lời giải thích thỏa đáng cho sự tồn tại của thiên tài, nhưng ta có thể thấy được điều kiện thuận lợi cho sự nảy nở của những tài năng. Thành phố Hoa (Florence) tự hào về sự độc lập đối với nhà thờ và lãnh chúa phong kiến, tự hào về những đứa con của mình đua tài tô điểm cho thành phố có lực hấp dẫn đối với khắp nơi trong nước và châu Âu thời đó. Các nghệ sĩ vùi đầu vào toán học để nghiên cứu các quy luật của thấu thị, vào giải phẫu học để nghiên cứu kiến trúc của cơ thể con người. Qua các khám phá đó, chân trời của nghệ sĩ được mở rộng. Ông ta không còn là một thợ thủ công trong phường thợ phục tùng các lệnh như đóng giày, đóng tủ hay vẽ trang trí tùy theo trường hợp phải làm, mà là một người chủ với vinh quang nếu như ông ta khám phá các điều bí ẩn của tự nhiên và thông nhập vào các quy luật thầm kín của Vũ trụ. Lẽ đương nhiên, vị trí xã hội của nghệ sĩ dẫn đường phải lên cao như thời Hy Lạp cổ đại, như thói thường chỉ chấp nhận một nghệ sĩ làm việc với đôi tay của mình. Nghệ sĩ không những được kính trọng như người đứng đầu trong phường hội thịnh vượng, mà trước hết là người làm ra được những tác phẩm duy nhất và quý giá. Đó là cuộc đấu tranh đầy khó khăn, không có thắng lợi tức thì. Thời thượng và thành kiến xã hội rất mạnh, người ta vui vẻ tiếp một học giả tại bàn tiệc do ông nói được tiếng La tinh, biết đọc văn phạm chuyển câu chữ trong mỗi trường hợp, nhưng người ta vẫn dè dặt trước việc ban phát đặc ân ấy cho một họa sĩ hay một nhà điêu khắc. Sự hâm mộ danh tiếng của những nhà tài chủ giúp cho nghệ sĩ khám phá được những thành kiến đó. Ở Italia có nhiều triều đình nhỏ giàu khát vọng về danh dự và về uy thế xây dựng dinh thự tráng lệ, cất lăng mộ nguy nga, đặt làm những bộ tranh nền thật lớn, hay quyên tặng một bức tranh cho một nhà thờ danh tiếng, đó là con đường chắc chắn làm sống mãi tên tuổi một ai đó và giúp họ chiếm được vị trí xứng đáng nơi trần thế. Ngày xưa, chính ông hoàng ban ân sủng cho nghệ sĩ, bây giờ vai trò đổi ngược lại, nghệ sĩ chiếu cố đến một ông hoàng hay một nhà cầm quyền giàu có bằng cách chấp nhận công việc họ ủy thác cho. Nghệ sĩ nhận công việc nào mà họ thấy thích thú và không phải chiều theo thị hiếu thất thường của những người đặt hàng. Trong bất cứ trong hợp nào thì cái quyền trong thời gian dài còn khó mà quyết định được. Nhưng trước hết, dù sao chăng nữa, đó cũng là kết quả của công cuộc giải phóng làm thoát ra một lượng ghê gớm của sinh lực bị ức chế. Cuối cùng thì nghệ sĩ được tự do.

Leonardo da Vinci (1452-1519) sinh tại một làng nhỏ ở vùng Toscane, học nghề tại Florence ở trong xưởng của họa sĩ kiêm điêu khắc gia Adrea del Verrocchio (1435-1488). Trước đây, các nghệ sĩ có tên tuổi tách ra khỏi phường thủ công để lập ra một xưởng riêng, nhận thực hiện các đơn đặt hàng và nhận đào tạo học trò. Trong các xưởng - trường, học trò được hướng dẫn nắm các việc khác nhau thuộc đủ nghề về việc “bếp núc” của vẽ tranh, làm tượng. Xưởng của Verrocchio là một xưởng tiếng tăm Verrocchio được Hội đồng thành phố Venise trao cho việc dựng tượng đài kỷ niệm Bartolommeo Colleoni, một danh tướng của thành bang mà dân chúng hàm ơn vì ông đã lập nhiều tổ chức từ thiện hơn vì những võ công anh dũng. Verrocchio đúc tượng đồng theo truyền thống Donatello, ông nghiên cứu kỹ giải phẫu của ngựa, làm rõ các cơ, các mạch máu đúng với tư thế của ngựa. Nhưng cái hay là Verrocchio làm rõ uy phong của vị tướng trên mình ngựa như đang dẫn đầu đoàn quân hùng mạnh. Sau này, tác phẩm của Verrocchio được dùng làm mẫu mực cho việc dựng tượng đồng các bậc đế vương, các ông hoàng, các ông tướng ở nhiều miền khác nhau do Verrocchio kết hợp được cái vĩ đại và cái giản dị trong tác phẩm của mình.

Tranh (thế kỷ XVI) miêu tả một phalanstère, một cộng đồng sản xuất lý tưởng do nhà lý luận xã hội Pháp Charles Fourier chủ trương dựa trên những hình ảnh không tưởng thời Phục hưng.

Leonardo học trong xưởng của Verrocchio, nắm được bí quyết nghề đúc hay gò kim loại, biết cách dựng tranh, tạc tượng bắt đầu với những nghiên cứu người mẫu từ khỏa thân đến có trang phục, học phép thấu thị và cách dùng màu. Nhiều người đã thành danh họa sĩ, nhà điêu khắc sau khi qua sự đào tạo của Verrocchio, trong đó Leonardo là người ưu tú nhất. Ngày nay ta biết được về Leonardo là do các học trò và những người hâm mộ ông đã biết giữ gìn cẩn thận tất cả những giấy tờ của ông có hàng ngàn trang ghi chép đầy chữ và hình vẽ. Đọc ông, người ta không hiểu tại sao một con người lại có thể giỏi trên các lĩnh vực rất khác nhau và có nhiều cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực đó. Ông thực hiện việc mổ xẻ hơn ba mươi tử thi. Ông là người đầu tiên nắm được sự tăng trưởng của trẻ em từ trong bào thai, ông theo dõi quy luật của sông và dòng nước. Ông bỏ nhiều năm quan sát và phân tích lối bay của côn trùng và chim, dự đoán về một chiếc máy bay mà ông tin một ngày nào đó trở thành hiện thực. Leonardo không thích những hiểu biết sách vở của các học giả, khi có vấn đề đặt ra, ông không ỷ vào những quyền uy đã có mà tự tay mình thực nghiệm để làm sáng tỏ vấn đề. Ông thuận tay trái, nên những ghi chép của ông đều viết ngược từ phải sang, cần dùng gương thì mới đọc được. Hơn nữa, ông không xuất bản những bài viết, có lẽ ông e ngại những ý kiến của ông dễ bị xếp vào loại dị giáo. Trong những ghi chép của ông, người ta thấy có năm từ “mặt trời không di chuyển”, điều đó chứng tỏ Leonardo đã đi trước học thuyết của Copernicus, học thuyết sau này đưa Galileo Galilée vào chuyện phiền hà. Nhưng cũng có thể những tìm tòi, thực nghiệm của ông chỉ vì óc tò mò không bao giờ thoa mãn, và một khi vấn đề được giải quyết cho riêng mình rồi, ông có thể bỏ lại để lao vào những bí ẩn khác còn chưa được khám phá. Có điều chắc chắn là Leonardo không coi mình là một nhà khoa học, mà chỉ muốn trang bị hiểu biết về thế giới nhìn thấy được, cần thiết cho nghệ thuật của mình. Ông nghĩ phải dựa trên nền tảng khoa học thì mới cải biến nghệ thuật hội họa yêu dấu của mình từ một nghề thủ công bị coi là rẻ rúng thành cái nghiệp đeo đuổi đáng kính trọng và hào hoa phong nhã. Đối với chúng ta ngày nay, thật là khó hiểu mối bận tâm ấy về địa vị xã hội của người nghệ sĩ, nhưng đối với những người thời ấy thì nó lại quan trọng biết chừng nào. Thói trưởng giả học làm sang có từ thời Cổ đại đã phân biệt “nghệ thuật tự do” (gồm có nghệ thuật hùng biện, văn phạm, triết học và phép biện chứng) với những nghề nghiệp phải làm bằng đôi tay được coi là công việc của đầy tớ. Leonardo cùng nhiều người đã chứng minh hội họa đúng là nghệ thuật tự do và lao động của bàn tay vẽ cần thiết không kém gì lao động của bàn tay viết trong thơ ca. Cách nhìn nhận đó ảnh hưởng tới các mối quan hệ giữa ông với các thân chủ. Ông không muốn bị coi là chủ một cửa hiệu để bất cứ ai đến đặt vẽ tranh cũng được. Ta biết ông thường quên thực hiện các công việc đã nhận đặt. Ông bắt đầu vẽ rồi bỏ dở dang mặc cho thân chủ thúc giục khẩn thiết. Rõ ràng ông muốn chính ông quyết định xem bức tranh đã hoàn tất chưa và ông từ chối không đưa tranh ra khỏi xưởng trừ phi ông thấy hài lòng về tác phẩm của mình. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi ta thấy ông có rất ít tranh làm được trọn vẹn.

Lại còn điều rủi ro khi mà số tác phẩm ít ỏi của Lenonardo thực hiện vào thời kỳ thành thục còn đến ngày nay thì ở trong tình trạng bảo quản rất kém. Bức tranh nền Bữa tiệc cuối cùng của ông bị hư hỏng nặng. Tranh vẽ trên một mảng tường trong phòng ăn hình chữ nhật của Tu viện Santa Maria del Grâces ở Milano vào những năm 1495 và 1498. Ta thử hình dung vào thời bức tranh được trưng ra, trong căn phòng kê liền nhau các bàn ăn dài của tu sĩ, xuất hiện bàn của Chúa và các tông đồ. Trước nay chưa từng có cái quang cảnh linh thiêng như thế này xuất hiện giữa nơi thâm cung và giống thật đến như vậy, y hệt một phòng ăn của các tu sĩ. Bữa tiệc cuối cùng như có thể sờ tay thấy được. Ánh sáng trong trẻo chiếu lên mặt bàn, các hình nhân vật tròn trặn và vững chắc. Hẳn các tu sĩ bị điểm trúng trước hết và sự chính xác trong mọi chi tiết được diễn tả, những đĩa thức ăn trên mặt khăn trải bàn, những nếp gấp của các bộ áo choàng. Sau đó, họ sẽ xem cách thức Leonardo thể hiện câu chuyện trong Kinh Thánh. Không có gì giống với các tranh trước đó vẽ cùng đề tài này. Theo truyền thống thì các Thánh tông đồ ngồi bất động thành một hàng trước bàn, chỉ có Judas tách riêng ra, trong khi Chúa điềm tĩnh phán truyền. Nhưng tranh của Leonardo mang đầy tính kịch, sôi động. Khi Chúa ban ra lời truyền: “Quả thật, ta nói cùng các người rằng có một người trong các người sẽ phản ta”, các môn đồ buồn bực lần lượt hỏi: “Lạy Chúa, có phải tôi không?”. Kinh Phúc âm của Saint Jean còn thêm: “Bấy giờ có một môn đồ dựa vào ngực Đức Chúa Jésus, tức là người mà Ngài yêu. Saint Pierre ra dấu cho người đó rằng: Hãy nói cho chúng ta biết thầy phán về ai”. Chính cái ra dấu và câu hỏi đó gây nên quang cảnh bị chấn động. Chúa vừa nói xong những lời bi thảm, và những ai ngồi bên Người đều dạt lại sau trong nỗi kinh hoàng như nghe thấy lời phát giác. Đôi người như long trọng cam đoan về lòng thành và vô tội, số khác thì bàn xem Chúa định nói đến ai, số khác nữa thì nhìn vào Chúa mong có sự giải thích về điều Chúa vừa nói. Thánh Pierre, tính nóng nảy hơn cả, xô lại phía Thánh Jean ngồi bên phải Jésus. Ông mải thầm thì điều gì đó vào tai Thánh Jean nên vô tình ông đẩy Judas ra đằng trước. Judas không bị tách riêng rẽ nhưng lại hóa ra thành cô độc. Hắn trơ ra, không khoa tay, không hỏi han gì. Hắn khom mình về phía trước và ngước lên với sự nghi ngờ hoặc giận dữ, một tương phản mạnh với hình ảnh Chúa ngồi trầm tĩnh và ẩn nhẫn giữa cái cảnh náo động dấy lên ấy. Ai đó tự hỏi nghệ thuật tuyệt vời trong đó mọi hành động kịch đều được kiểm tra kỹ. Dù sự náo động do lời nói của Đức Chúa gây nên, vẫn không hề có gì hỗn độn trong tranh vẽ. Mười hai tông đồ gần như dồn lại hoàn toàn tự nhiên thành bốn nhóm ba người một liên kết với nhau do dáng bộ, cử chỉ. Trong cái đa dạng vẫn có trật tự và trong cái trật tự có đa dạng. Leonardo thấy không cần phải hy sinh sự đúng đắn của hình họa, hay sự chính xác của quan sát theo những yêu cầu của một bố cục đẹp. Ngoại trừ những vấn đề về kỹ thuật như bố cục và hình nét, ta khâm phục Leonardo có sự hiểu biết sâu sắc về thái độ, về các phản ứng của con người và có sức mạnh tưởng tượng để dàn dựng lên cả một phong cảnh trước mắt ta. Vấn đề mà Leonardo đặt ra rất cao về chất. Các nhân vật phản ứng lại trước lời phán của Chúa theo tính khí của mỗi người trên gương mặt hiện lên vẻ hãi hùng, sự nghi ngờ hay phẫn nộ. Họ băn khoăn tự vấn mình, đồng thời cố đoán xem ai là thủ phạm. Lời của Chúa ban truyền như những con sóng chao động làm đấy lên những tình cảm xáo trộn ẩn nơi sâu kín của tâm hồn. Một người được chứng kiến kể lại ông thường thấy Leonardo khi đang vẽ Bữa tiệc cuối cùng. Họa sĩ ở trên giàn giáo và đứng đấy suốt ngày để suy ngẫm mà không đụng đến một nhát bút nào. Chính từ kết quả của sự suy ngẫm đó, ông truyền lại cho chúng ta bức Bữa tiệc cuối cùng, một trong những kỳ công vĩ đại do thiên tài con người tạo nên, ông đã thực hiện được việc biến hội họa thành một “cosa mentale” (sự vật trí tuệ) như chính ông đề ra, kết hợp thần tình sự chính xác khoa học với chất thơ nghệ thuật trong cùng tác phẩm.

Michelangelo (1475-1564)

Ông tên thật là Michelangelo Buonarotti, sinh năm 1475 ở Caprese gần Florence, mất năm 1564 ở Roma (Arezzo). Ông sinh ra ở một gia đình quyền thế thành phố Caprese. Bố tên là Lodovico đi Leonardo Buonarotti Simoni, một luật gia nổi tiếng ở Florence. Michelangelo, một nhà điêu khắc, một họa sĩ, một kiến trúc sư, một kỹ sư... và là một nhà thơ... là một gương mặt sáng nhất của Italia thời Phục hưng, một danh nhân toàn diện, bậc thầy lớn nhất của lịch sử nghệ thuật nhân loại.

Năm 14 tuổi, ông đã đến làm việc ở xưởng họa của Dominico Ghirlandajo, ở đó ông chịu ảnh hưởng lớn của họa sĩ Đức Martin Schöngauer.

Trước Michelangelo năm mươi năm, những danh họa đàn anh như Brunelleschi, Masaccio, Donatello và Alberti v.v... đều nuôi hoài bão đạt được tiêu chuẩn cái đẹp của nghệ thuật Hy Lạp. Riêng Michelangelo, không những ông đã vượt được nền nghệ thuật kinh điển ấy, mà ông còn đi xa hơn nữa, bằng cách ông đã đưa vào tác phẩm của ông tính nhân văn nhuần nhị của nghệ thuật cổ Hy Lạp hòa đồng với tinh thần thánh thiện của đạo Gia tô đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị, tư tưởng của châu Âu đương thời.

Trong thời còn niên thiếu ấy, ông đã được mọi người để ý khi ông bắt tay vẽ bức Tentation de Saint Antoine dựa theo Schóngauer. Năm 1489, được vào học tại trường điêu khắc do Laurent le Magnirque đỡ đầu, và nhà điêu khắc Bertoldo hướng dẫn. Ở đó, Michelangelo đã nắm bắt được tất cả những đặc tính của kho tác phẩm điêu khắc cổ Hy Lạp.

Michelangelo đã chịu ảnh hưởng rất lớn tính hiền thục của Masaccio, một danh họa Italia (1401-1428), người đã dạy cho Michelangelo cách diễn tả nét mặt, sắc thái vui buồn, giận dữ của nhân vật trong tranh, đồng thời tính hoành tráng trong bố cục và thể hiện.

Michelangelo rất khâm phục vì nhận ra ở Bartoldo những nét của Donatello. Ông chịu sự giúp đỡ của gia đình Médicis... cho đến năm Laurent le Magnifique chết (1??2).

Vì ở gia đình Laurent le Magnirque, Michelangelo đã biết Giovanni, con của Laurent sau này sẽ thành Giáo hoàng Léon X. Cùng thời gian ấy, ông lui tới Tu viện San-Spirito nghiên cứu cơ thể học, triết học và văn học.

Bước ngoặt lớn của đời ông trong thời gian ấy là ông kết bạn cùng Pie de la Mirandole (1463-1494), một nhà tư tưởng lớn của thời kỳ Phục hưng ở Italia; chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng cải cách của Savonarole (1452-1498), Michelangelo đã thể hiện ở tác phẩm của ông tính trỗi dậy và phản kháng cương quyền..., tính nhân văn của thời đại. Hai thế kỷ trước đó có Dante (1265-1321) với Comédie Divine, Pétrarque (1304-1374), người cha của tư tưởng nhân văn, người chủ trương: con người cần có thể lực và tự do, tự do không biên giới (Libre de tout frein), Giovanni Boccaccio (1313-1375) với Décameron.

Dòng tư tưởng này đã có ảnh hưởng quyết định đến thời kỳ Phục hưng ở Italia, ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm của toàn bộ nghệ sĩ lớn của thời kỳ Phục hưng. Botticelli da minh họa Divine Comédie, Michelangelo vô cùng ngưỡng mộ Dante..., và do đó khi sáng tác Judgement Dernier ở nhà thờ Sixtine, Michelangelo đã chuyển Divine Comédie thành hội họa, thậm chí Michelangelo đã đưa những suy nghĩ của ông về Savonarole vào trong Thánh thể Jésus, Người đang vung tay phán xét trong Judgement Dernier, có người cho rằng ở mặt của Jésus có nét giống Savonarole!

Một phần vì tài năng, một phần vì tính Michelangelo thiếu dịu dàng, nên ông bị bạn bè ghen tị và thù ghét, nhân một cuộc cãi vã với một người bạn cùng trường Piétro Torrigiano, đi đến ẩu đả, và ông bị đánh gãy sống mũi. Tai nạn này đã để lại cho ông nhiều hối tiếc và đau đớn suốt đời.

Năm 1496, sau khi ở với Hồng y giáo chủ Riario, ông đến Roma và ở đó gần năm năm, ông đã được tiếp cận với nền điêu khắc Hy Lạp vừa được khai quật, nhất là tượng Apollon du Belvédère. Lúc ấy ông vừa mới có 21 tuổi, ông đã được sứ thần Pháp ở Italia, Hồng y giáo chủ Villier de la Groslaye đặt một hợp đồng quan trọng: tạc một số tượng cẩm thạch Đức Mẹ và thi hài Chúa Jésus cho nhà thờ của triều đình Pháp đóng ở Saint Pierre. Đề tài này tiếng Italia gọi là Piéta (Tình mẫu tử) Michelangelo đã để ra gần năm năm để hoàn thành tác phẩm này. Cụm tượng lúc được đưa ra bày, có nhiều ý kiến cho rằng Đức Mẹ quá trẻ để có một người con 35 tuổi.

Michelangelo trả lời: một phụ nữ càng trong trắng bao nhiêu, càng trẻ mãi bấy nhiêu (“Plus une femme est pure, plus elle paraĩt jeune” – Carl Grimberg).

Michelangelo đã phần nào chịu ảnh hưởng của Leonardo da Vinci trong cách đặc tả nét mặt dịu hiền, cao quý của Đức Mẹ, với bàn tay trái mở ra, cử chỉ Leonardo vẫn dùng để tả sự chấp nhận của con người trước định mệnh.

Ở đây, chúng tha thấy Chúa Jésus cũng như mọi xác chết người thường, như những con người đã đau khổ và đã chết! Chiếc khăn liệm buông rủ xuống thành nếp không đắp kín tay chân người chết. Đôi mắt người mẹ nhắm lại, không nhìn con càng nói lên sự đau khổ đã thấm sâu vào tâm hồn người mẹ.

Piéta là tác phẩm lớn đầu tiên, thành quả thai nghén của một tâm hồn trong sáng, tươi trẻ đầy tài năng. Vào những năm 1501-1504, với một khối đá mà nhà điêu khắc Agostino de Duccio đã bỏ lại, vì đã bị coi là quá bé cho một bức tượng có tầm cỡ, Michelangelo đã bắt tay vào việc..., và ở tảng đá này, ông đã cho thoát sinh ra David, người anh hùng của dân Hébreux đã chiến thắng người khổng lồ Goliath.

Bức tượng bằng đá cẩm thạch cao 4 thước..., quả là một người khổng lồ bằng đá! Do tảng đá hẹp, ông phải tuỳ vào sự hạn chế của nguyên liệu để tạo bố cục pho tượng, tạo dáng tay chân để sử dụng được hết khả năng của khối đá.

Đức Mẹ Vierge và Chúa Hài đồng cũng được sáng tác trong thời gian này, ở độ tuổi ông đã nhận thức được tầm cao quý, mẫu mực của nghệ thuật cổ điển Hy-Lạp. Tác phẩm này đã được các thương gia thành phố Bruges đặt để cúng cho Nhà thờ Đức Bà (Notre Dame).

Với tượng Đức Mẹ Vierge và Chúa Hài đồng này, Michelangelo đã trở lại với dáng dịu hiền ban phước và lòng tin của Đức Mẹ. Trạng thái tâm hồn này chỉ thoáng qua đời ông, vì ông luôn luôn nghĩ đến cái đau khổ, quằn quại của con người hơn là cái vui tươi, bình thản... Sau này, những ý nghĩ ấy sẽ thấy rất rõ, đậm nét trong việc thể hiện bức Judgement Dernier.

Lúc này ông đã nổi tiếng, tên tuổi ông được các giới quyền thế ở Florence, Roma... đều biết đến, và năm 1505, nhận lời đề cử của kiến trúc sư Giuliano da Sangallo, Đức Giáo hoàng Jule II cho mời ông và giao ông việc tạc một số tượng cho mộ của ông ta. Theo ý đồ của Giáo hoàng Jule II, ông muốn ngôi mộ có một không hai sẽ nói lên với hậu thế cái hoài bão to lớn của mình, đưa ông lên thành một đấng bất tử. Trong những ngày ở Roma, Michelangelo tìm thấy ở điện Titus một cụm tượng cổ Laocoon (hiện bày ở Bảo tàng Vatican), tượng tả nét mặt đau đớn của ba cha con người Troie bị một con trăn lớn xiết chết. Michelangelo say mê bức tượng Laocoon, đúng hơn là nét mặt tả cái đau đớn, tuyệt vọng giành giật cái sống khỏi cái chết của ba cha con Laocoon...

Tự cảm thấy có nhiều tương cảm với nỗi đau khổ của người trong tượng, nên Michelangelo đã hầu như quên cái đẹp nuột nà, dễ dãi của Apollon du Belvédère.

Nếu việc được Giáo hoàng Jule II đặt làm ngôi mộ làm cho Michelangelo vô cùng hài lòng, thì chính cũng vì tiến hành làm ngôi mộ này mà Michelangelo vấp phải những bi kịch... mà sau về già ông tự trách là đã tiêu hủy cuộc đời thanh xuân của ông vào công trình này. Xuân năm 1506, trong lúc Michelangelo đang chờ đá cẩm thạch từ Carrare chuyển về để làm việc, thì bỗng Jule II đột ngột hủy bỏ chương trình. Michelangelo rất buồn bực và từ giã Roma. Công trình cứ dang dở kéo dài cho đến năm 1545... Tuy có hoàn thành nhưng kết quả không mấy hoàn chỉnh.

Michelangelo biết rằng phục vụ Jule II có nghĩa là phục vụ một người kiêu căng và nhiều tham vọng, nhưng Jule II lại là người tạo cho Michelangelo nhiều điều kiện để làm việc, thực hiện những sáng tạo to lớn của ông, mâu thuẫn ấy không thể nào không ẩn giấu trong các tác phẩm của ông ở điêu khắc cũng như ở hội họa. Ở mộ Jule II, Michelangelo đã dựng lên một khuôn mặt Moise, người đã lãnh đạo nhân dân Do Thái chống chính quyền nô lệ Ai Cập thế kỷ XIII TCN, người tuân lệnh Chúa Yahvé, dựng lên Thánh lệnh Torah cho người Do Thái. Một con người vĩ đại trong Thánh kinh, cũng là con người phải trải qua nhiều thử thách đau khổ trong trọng trách dìu dắt nhân dân Do Thái đi tìm miền đất hứa.

Hình tượng Jule II được Michelangelo lồng vào nhân vật Moise, mang tính cương nghị, quả quyết, nhưng đau khổ, đơn độc và đầy nộ khí lúc nhân dân Do Thái khi đã sao nhãng lời Thánh truyền! Có thể là Jule II đã là người mẫu vô tình của Michelangelo trong lúc tạc tượng Moise. Thêm vào cụm tượng ấy, hiện nay còn lưu lại ở Bảo tàng Louvre hai tượng người nô lệ, có thể là ở mộ Jule II. Hai người nô lệ bị trói... phải chăng là kiếp con người Một người đang giãy giụa đánh tháo gỡ mình, một người tỏ ra bất lực và tuyệt vọng nhận lấy số phận của kiếp người. Hai nét mặt nói lên sự đau khổ và bất lực trước định mệnh! Hai nét mặt để diễn tả một khuôn mặt của Jule II.

Có nhiều nguyên nhân khiến công trình bị đứt quãng có thể vì Jule II đã tiến hành một lúc nhiều công trình quá to lớn, nhất là Thánh thất Saint Pierre đã ngốn hết công quỹ của Vatican, có thể do cá tính bất khuất của Michelangelo đã làm cho Jule II bất bình, hoặc có thể do Donato d’Angelo Brumante, một kiến trúc sư thân cận của Jule II, người đã được Giáo hoàng ủy nhiệm trùng tu Thánh thất Saint Pierre, vì bất đồng quan điểm đã xúi Jule II loại bỏ Michelangelo. Sau một cuộc cãi cọ với Jule II, ông bỏ đi và đến Florence, Jule II cho gọi ông mấy lần, ông từ chối, sau đó ông nhận lời hoàn thành với điều kiện chỉ làm việc ở Florence. Jule II không chấp nhận và nhất thiết buộc ông phải ở gần đức Giáo hoàng để làm việc, nếu không dọa sẽ có những điều chẳng lành cho Florence.

Tháng 11-1506, đức Giáo hoàng Jue II gặp Michelangelo ở Bologne, giải hòa với ông và đề nghị ông tạc tượng Jule II bằng đồng đặt tại nhà thờ San Petronio, Michelangelo vừa bắt tay vào công trình thì năm 1513 Jule II từ trần. Những người kế nghiệp Jule II đề nghị Michelangelo tiếp tục công trình cho đến năm 1520 mới hoàn thành.

Lúc sinh thời, tuy có nhiều bất đồng với Michelangelo, nhưng Jule II rất mến phục tài nghệ và tư cách của ông. Jule II biết rằng cái vĩ đại của ông cần phải có cái thiên tài vô song của Michelangelo.

Năm 1508, ông cho mời Michelangelo và yêu cầu trang trí trần Nhà thờ Sixtine. Michelangelo đáp lời: ông là một nhà điêu khắc chứ không phải là một họa sĩ, tuy nói vậy, ông vẫn bắt tay vào việc. Trần Thánh thất Sixtine dài 40 thước và ngang 13 thước không liền một diện. Trần là một chiếc vòm, vì kỹ thật kiến trúc phải chia ra trên 40 mảng hình dáng và kích thước không giống nhau! Riêng việc chọn đề tài và phân bố đề tài cho 40 khung hình cũng đã là một việc làm phức tạp và khó khăn.

Việc thể hiện lại càng khó khăn hơn. Michelangelo tự làm lấy giàn giáo, vì ông phải nằm ngủ để vẽ.

Suốt 4 năm trời làm việc, sơn, màu vẽ rơi đầy mặt, đầy mồm và quần áo. Ông làm việc một mình không cần người giúp việc hoặc môn đệ. Ông sống ngót một nghìn năm trăm ngày với ba trăm bốn mươi nhân vật rút ra từ Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước cùng Thánh Kinh Tạo thiên lập địa (Génèse). Có hôm Giáo hoàng Jule II đến xem, ông không tiếp, vẫn nằm vẽ. Giáo hoàng nhận xét nên chữa bỏ chỗ này chỗ nọ, ông bỏ ngoài tai, hoặc chữa lấy lòng lễ phép..., sau đó lại vẽ tiếp theo ý ông.

Bức hoạ ở trần Thánh thất Sixtine nói lên ý Chúa đối với con người; ô giữa của vòm, Michelangelo dành cho bức tạo sinh con người (Création), Đức Chúa Trời bay trong không trung bằng một phép mầu nhiệm, không dùng đến đôi cánh như mọi Thiên thần. Đức Chúa Trời là một người cao tuổi, đẹp quắc thước và đường bệ. Nhiều người nhận thấy có nét hao hao giống Michelangelo.

Adam, con người đầu tiên thụ nhận sự sống của Chúa Trời nét mặt đăm chiêu suy nghĩ, tuy có nhìn về phía người đã ban cho mình sự sống, nhưng người cha của nhân loại hình như đã đoán trước được nỗi đau khổ của kiếp người, nên đôi mắt có phần u uẩn, bàn tay trái đưa lên để nhận hơi sống của Chúa cũng có đôi phần uể oải. vì luôn luôn Michelangelo vẫn thấy ở đời sống con người một kiếp đời đày đọa đau khổ, một sự ràng buộc vô hình con người vào với chướng nghiệp của nó.

Cạnh tranh tạo sinh con người là tranh mà con người, tác phẩm của Chúa Trời, lại chính bị Chúa Trời đuổi khỏi Thiên đường, cùng với Eva. Tiếp đó là tranh Nạn hồng thủy (Déluge)! Phải chăng, theo ông, Đức Chúa Trời đã tạo ra con người để tiếp đó đọa đày và làm khổ nó?

Sự chấp nhận Thiên Chúa giáo ở Michelangelo là sự chấp nhận đầy đối kháng..., và chỉ là một lý do giúp ông diễn tả nội tâm của ông đối với ngoại giới, và ngay đối với giáo hội, và chỉ là cái cớ để ông bày tỏ sự ngưỡng mộ và ca ngợi cái tuyệt mỹ của cơ thể con người mà thôi!

Từ năm 1516 đến năm 1534, ông sống ở Frorence và sáng tác cho lăng mộ dòng họ Médicis, ở San-Lorenzo. Mộ có sáu tượng thành một cụm nói lên dòng tư duy của Michelangelo về sự nghiệp của Julien và Laurent về thời gian và không gian (hình tượng ngày và đêm, rạng đông và hoàng hôn). Sự nghiệp của Laurent và Julien được truyền lại hậu thế là nhờ hai bức tượng này... Michelangelo đã đặt Laurent ngồi ở một tư thế suy tư, đăm chiêu, đôi mắt như nhìn vào lịch sử… ngày mai và cả nội tâm của đời mình.

Tượng Julien là tượng của sự tươi trẻ và sống động.

Tượng Laurent là của trí tuệ và tư duy. Nhưng cũng vào những năm này, đời sống chính trị ở miền Trung bộ Italia có nhiều biến động: năm 1527, Hoàng đế Charles Quint đưa quân vây chiếm Roma. Giáo hoàng Clément VII bị bắt giữ, Michelangelo là người tham gia tích cực phong trào dân chủ.

Nhưng Giáo hoàng Clément VII tìm cách thỏa hiệp được với Charles Quint..., trở lại nắm chính quyền, phe chống đối bị đàn áp... Michelangelo phải bỏ trốn. Vì mến tài của Michelangelo, đức Giáo hoàng ra lệnh ân xá cho ông với điều kiện ông phải hoàn thành lăng gia đình Médicis.

Hoàn chỉnh ngôi mộ này, với những vức tượng, Michelangelo muốn nói lên nỗi đau khổ của mình trước những bi kịch của Italia đương thời.

Tiếp đó, ông hoàn thành một số tượng Píeta; một bày ở đỉnh vòm điện Florence, và tượng Píeta Palestrina, Píeta Rondonant. Trong cái rối ren hưng vong của thời cuộc, ông cố tìm về cái yên lắng của tâm hồn có đượm phần tuyệt vọng và đau khổ.

Năm 1534, Michelangelo trở về Roma. Giáo hoàng Paul III Farnèse mời ông phụ trách về kiến trúc, hội họa và điêu khắc tại Vatican.

Michelangelo trong những năm 1536-1541 đã hoàn thành tác phẩm cuối đời mình. Bức Phán xét cuối cùng (Judgement Dernier), bức bích họa chiếm hết tường của Thánh đường Sixtine, dài 17 thước chiều cao 13 thước. Khi sáng tác tranh này, Michelangelo đã sống lại những ký ức ở Pise, các bức bích họa của Signorelli ở Orvieto, nhất là Divine Comédie của Dante...

Toàn tranh màu ngả về hung đỏ trên nền xanh lơ nhạt, sắc độ đậm nhạt cùng màu, phong phú. Lần đầu tiên người ta thấy Đức Chúa Jésus có một cử chỉ quyết liệt, trần toàn thân, một thân hình tráng kiện, trẻ đẹp, vung tay chỉ về phía những linh hồn tội lỗi phán: “Các người hãy tránh xa ta ra?”. Cử chỉ ấy của Chúa Jésus chính là sự công phẫn của Savonarole trước sự thoái hóa của giáo hội Vatican... với chiếc mũi to, nét mặt của Chúa cũng có phần hao hao giống Savonarole.

Sau lưng Chúa là Đức Mẹ, dáng hoảng hốt, nép mình vào con: Người ta tưởng như được nghe hồi kèn thức tỉnh của các Thiên thần... Các mồ mở nắp..., linh hồn người chết thoát ra. Kẻ được lên thiên đàng, người xuống hỏa ngục do quỷ sứ kéo..., một cảnh khủng khiếp mà con người bị đày ải, giãy giụa của tội lỗi trong một cơn lốc trừng phạt.

Khi tranh được đưa ra công chúng, mọi người khiếp đảm kêu lên: quá nhiều thân hình trần truồng trong Thánh cung Sixtine.

Năm 1555, Giáo hoàng Paul IV Caraffa lên ngôi, chỉnh đốn “thuần phong mỹ tục” bằng ý muốn xóa bỏ bức tranh. Nhưng cũng có người phản đối, nên Paul IV đành chủ trương cho một số người quá trần truồng trong tranh mặc áo…

Tất nhiên Michelangelo không nhận làm công việc ấy. Giáo hoàng đành ủy nhiệm cho một họa sĩ khác khoác khăn, vải lấp những chỗ “hở hang” của các nhân vật trong tranh.

Suốt đời ông không thấy có tài liệu nào nhắc đến những quan hệ riêng tư, ông không có gia đình, trên các đường phố của Roma, người ta thấy ông lủi thủi cô độc đi một mình như đã từng đi trong suốt cuộc đời ông.

Mãi trong những năm cuối đời, ông mới biết, quen và yêu một phụ nữ tên là Victoria Colonna, quả phụ của Quận công Pescara. Mối quan hệ đẹp đẽ cao thượng này đã giúp ông viết một số thơ ca. Victoria Colonna là một thi sĩ đồng thời là một người am hiểu về hội họa. Bà đã trao đổi với Michelangelo về nền hội họa phương Bắc mà bà rất thích vì tính hiện thực và màu sắc lắng đọng của nó... Điều ấy đã giúp Michelangelo sáng tác hai bức họa ở nhà thờ Pauline và Vatican năm 1542-1545, đó là hai bức La Crucification de Saint-Pierre, La Conversion de Saint-Paul.

Lúc này Michelangelo đã yếu mệt, nên không còn sức để sáng tác về điêu khắc. Ông đã dần dần chuyển sang những đề tài kiến trúc như nhà thờ Médicis, mặt tiền của nhà thờ San Lorenzo ở Florence, thư viện Lauren-tienne... mãi đến năm 1560 mới hoàn thành do Anmanari đảm trách.

Cosme I de Médicis mấy lần rước ông về Florence, nhưng ông từ chối. Cathérine de Médicis nhờ ông làm cho Henri II một phù điêu nổi... Và ông đã ủy thác cho học trò Daniel Voltena thi công dưới sự trông nom của ông.

Tác phẩm trước những năm lâm chung của ông là tượng Mise au Tombeau. Ông kiệt sức không hoàn thành được và trao lại cho học trò mình (1555) Tibério Caliagni hoàn thành.

Ngày 18-2-1564, ông mất tại Roma, thọ 89 tuổi.

Đức Giáo hoàng muốn mai táng ông tại Nhà thờ Saint-Pierre..., nhưng theo lời trăng trối ông muốn về nằm trên mảnh đất quê hương của mình - La Toscane. Thi hài ông được chôn cất tại Giáo đường Santa Croce.

Một nghệ sĩ tài năng, một tâm hồn cao quý Michelangelo đã để lại một sự nghiệp đồ sộ cho người đương thời và cho hậu thế. Tác phẩm của ông mang dấu hiệu của sự hình thành trường phái Baroque, trường phái của năng động, của canh tân, của hiện thực, của nhịp điệu (rythme) và của con người quả cảm tư duy và đau khổ.

Họa sĩ TRẦN DUY

Raphaello (1483-1520)

Danh họa Raphaello (Raffaello) Sanzio, thường gọi là Raphaël, là một trong người họa sĩ vĩ đại nhất, họa sĩ số một của nhà thờ Thiên Chúa giáo, tinh hoa của thời đại Phục hưng Italia. Trong cuộc đời 37 năm ngắn ngủi của mình, Raphaello đã làm nên một phong cách hội họa và một nhân cách có sức hấp dẫn lạ thường, không ngừng làm kinh ngạc và say mê những người yêu chuộng mỹ thuật trên khắp các châu lục.

Raphaello cùng với Leonardo da Vinci (1450-1520), Michelangelo (1475-1564), Titian (1489-1576) trở thành những đại biểu xuất sắc nhất của mỹ thuật Phục hưng Italia. Trong đó, nếu như Leonardo da Vinci là thiên tài hội họa với những kiếm tìm khám phá, xây dựng nhiều quy tắc và phát minh như phép phối cảnh (perspective) trong hội họa, Michelangelo - tác giả của một khối lượng khổng lồ những tác phẩm nghệ thuật của cái bi thương nhưng hùng tráng. Titian để lại rất nhiều tác phẩm với màu sắc lộng lẫy thiết tha, thì Raphaello là người có tài tinh lọc những gì là tốt đẹp nhất trong mỹ thuật của các vị tiền bối. Raphaello là người có tài kết hợp cả những điều khó kết hợp nhất: rất xưa mà nay, huyền thoại với đời thường, thiêng liêng thánh thiện và trần gian gần gũi... để làm nên những tác phẩm bất hủ với bố cục mang tính tổng hợp của các phong cách Phục hưng.

Raphaello sinh năm 1483 tại Urbino. Thời gian học tập ở Urbino và Peruga, Raphaello từng là học trò của danh họa Pietro Perugino (1450-1523). Thời kỳ mở đầu này, Raphaello đã vẽ nhiều tranh chịu ảnh hưởng của thầy, có thể kể như: Thánh Niccolo (Saint Niccolo da Tolantino Altarpiece; 1501; Bảo tàng Capodimonte, Naples); Jésus chịu đóng đinh trên thánh giá (The Crucifixion; 1502: Phòng tranh quốc gia London); Trao vương miện trinh nữ (Coronation of the Virgin, 1503; Vatican); Lễ cưới Trinh nữ (Marriage of the Virgin; 1504; Phòng tranh Brera, Milan).

Năm 1504, Raphaello tới Florence. Raphaello đã gặp Leonardo da Vinci và Michelangelo đang làm việc ở đây. Raphaello đã học tập những nghệ sĩ tài ba đã nổi tiếng này và sáng tạo nên những tác phẩm của riêng mình. Trong khoảng thời gian 4 năm ở Florence, Raphaello đã vẽ nhiều tranh, trong đó có những bức nổi tiếng như. Đức Bà và Hài đồng lên ngôi với năm thánh (The Madona and Child enthroned with Five Saints, 1505, Bảo tàng Metropolitan, New York); Thánh Michael và con rồng (Saint Michael and Dragon, 1505, Bảo tàng Louvre, Paris); Chân dung Angelo Doni (Portrait of Angelo Doni, 1506, Phòng tranh Pitti, Florence); Hạ huyệt (The entombment, 1507, Phòng tranh Borghese, Roma).

Năm 1508, Raphaello được Giáo hoàng Julius II mời tới làm việc tại Roma. Chính ở đây, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng, để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới như: Tranh luận về lễ ban phước (Dispute, 1509-1510; Vatican, Roma); Trường Athènes (The School of Athènes, 1510-1511; Vatican, Roma). Đặc biệt là một loạt tranh tôn giáo rất đẹp như: Đức Bà Garvagh (The Garvagh Madonna, 1510, Phòng tranh quốc gia London); Đức Bà Alba (The Alba Madonna; 1511; Phòng tranh quốc gia Washington). Đặc biệt nhất là bức Đức Bà Sixtine (The Sixtine Madonna; 1512-1513; Bảo tàng Dresden). Kiệt tác này là đỉnh cao và sự tổng kết về tranh Thiên Chúa giáo. Trường Athènes là bức tranh tường khổ lớn được Raphaello vẽ tại Phòng chữ ký (Stanza della Segnatura) của Giáo hoàng ở Vatican. Trong đó ông đề cao triết học Hy Lạp cổ đại, một điều không thể chấp nhận đối với Thiên Chúa giáo thời Trung cổ. Tất cả các mặt: hình họa, phối cảnh, bố cục, màu sắc được Raphaello giải quyết một cách hoàn hảo đến mẫu mực. Trên nền cao của ngôi đền nguy nga tráng lệ, đồng thời cũng là trung tâm của bức tranh, Raphaello đã thể hiện hai triết gia vĩ đại Platon và Aristote vừa đi vừa tranh luận. Đây chính là những người đặt nền tảng cho triết học châu Âu. Xung quanh và những bậc thang thấp là những học giả, những đại biểu của tư tưởng, khoa học, nghệ thuật của các thời kỳ sau đó, suốt một chiều dày lịch sử 2.000 năm tới thời Raphaello. Hơn năm mươi nhân vật được diễn tả trong một bố cục gắn bó chặt chẽ, với tương quan sáng tối lý tưởng làm nổi bật các nhân vật trên một nền kiến trúc tầng tầng lớp lớp trong sáng và sâu thẳm.

Hai năm sau khi Raphaello vẽ bức Trường Athènes, ông vẽ Đức Bà Sistine cho nhà thờ Saint Sixto. Bức tranh có bố cục tài tình khéo léo với sáu nhân vật, tạo nên tam giác ổn định bền vững như mong muốn trường tồn của nhà thờ. Đỉnh cao trang nghiêm đường bệ là hình Đức Mẹ Đồng trinh bế Chúa Hài đồng với những nét tâm lý sâu sắc qua từ dáng ngồi đến ánh mắt, như tiên báo một con người sinh ra để làm những việc lớn lao, phi thường… Xung quanh khuôn mặt ngời sáng của Đức Mẹ và Chúa Hài đồng là vầng hào quang kỳ ảo, nếu ta nhìn kỹ sẽ thấy vầng hào quang này soi rõ vô vàn những khuôn mặt đang hướng về Chúa. Hai bên là các nhân vật Saint Sixto và Barbaru đang tôn vinh Đức Mẹ và Chúa Hài đồng, tất cả đang bồng bềnh trên mây. Bên dưới cận cảnh bức tranh được kết bởi hai Thiên thần hướng thượng. Màu sắc ở đây cao nhã mà tha thiết. Những hình ảnh hết sức tôn nghiêm nhưng lại gần gũi lạ thường. Bức tranh này là bản tổng kết tuyệt vời của Raphaello về đề tài tôn giáo và tình mẹ con để mãi mãi về sau chưa ai có thể vượt qua.

Chỉ sau 5 năm tới làm việc tại Roma, khi Giáo hoàng Julius II mất (1513), danh tiếng Raphaello đã vang dội. Tài năng và sự uyên bác của ông đã ảnh hưởng to lớn tới giới họa sĩ trẻ ở Italia thời bấy giờ. Tiếp theo, bảy năm cuối đời của ông, Raphaello đã làm việc dưới thời Giáo hoàng Leon X, mặc dù phải đảm đương nhiều trọng trách, giám sát các công trình ở Vatican, ông vẫn lãnh đạo một tập hợp đông đảo các nghệ sĩ tài năng, trong đó có Giulio Romano và Giovan Francesco Penni. Với hội họa, Raphaello tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm đẹp và hoành tráng như: Bà Velata (la Donna Velata, 1514, Phòng tranh Pitti, Florence); Đức Mẹ ngồi ghế (The Madonna of the chair, 1515, Phòng tranh Pitti, Florence); Đám cháy ở Borgo (The fire in the Brogo; 1515, Vatican); Mẻ lưới kỳ diệu (The miraculous draught of fishes, 1515, Bảo tàng Victoria và Albert, London); Gia đình Thánh Francisi (The Holy family of Francisi, 1518, Bảo tàng Louvre, Paris).

Raphaello mất vào năm 1520 ở tuổi 37 trong vinh quang tuyệt đỉnh và sự tiếc thương vô hạn của bạn bè và những người yêu thích tranh của ông.

Họa sĩ TRƯỜNG THẢO

Đức mẹ Sistine (the Sistine madonna)
(Màu dầu. 104 x 77cm. Sáng tác năm 1512-1513. Bảo tàng Dresden – Đức)

Tác phẩm này có thể được coi như là tác phẩm tiêu biểu của hội họa Phục hưng Italia.

Đức Mẹ Sistine là bức tranh nổi tiếng nhất của Bảo tàng Dresden. Raphaello vẽ tranh này vào năm 1512-1513 theo yêu cầu của Giáo hoàng Julius II cho nhà thờ San Sisto. Bức tranh được gọi theo tên nhà thờ này. San Sisto là vị Thánh ủng hộ loài người, ở bên trái tranh. Thánh mang nét mặt của Giáo hoàng Julius II, người muốn được nổi tiếng bằng cách bắt Raphaello vẽ Thánh theo hình mình. Đối diện với Thánh Sisto là Thánh Barbara. Đức Mẹ bế Chúa Hài đồng đang từ trên mây đi lại. Hình ảnh Đức Mẹ là sự kết hợp vẻ đẹp thánh thiện với vẻ đẹp dịu dàng của người phụ nữ. Bố cục tranh dựa theo một tam giác bao gồm các nhân vật chính.

Vẻ uyển chuyển và duyên dáng này có được là nhờ cách bố trí không gian phối cảnh chính xác hơn là lối nghĩ của thời kỳ tiền Baroque về cái vô hạn và là bố kịch trường, Vì thế nó vẫn thuộc phạm vi thời Phục hưng. Thực ra ý bức tranh này phỏng theo kiểu cửa sổ mở ra phía bầu trời, bởi nó được vẽ cho nhà thờ San Sisto ở Piacenza.

François Rabelais (1494-1553), nhà văn khởi đầu thời đại phục hưng Pháp

François Rabelais (Phrăngxoa Rabơle) là nhà văn nhân văn chủ nghĩa Pháp. Chưa bao giờ như thời đại văn hóa Phục hưng, loài người lại chứng kiến sự ra đời của nhiều danh nhân văn hóa “khổng lồ” đến vậy. Rabelais là một con người như thế. Không chỉ là một tiểu thuyết gia lừng danh, ông còn là một nhà bác học nhân văn, một nhà sinh vật học, một bác sĩ y khoa, một nhà luật học, kiêm thiên văn học, ông còn thông thạo tiếng Hy Lạp, tiếng La tinh, tiếng Hébreux, tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Italia.

Rabelais là con một trạng sư có trang trại riêng ở gần Sinông. Thời niên thiếu, ông được gửi theo học các trường dòng. Đến năm 26 tuổi, ông trở thành tu sĩ thuộc dòng Phrăng Xitxcanh, sống cuộc đời của người tu hành, nhưng ông luôn cảm thấy bức bối, chật chội, tù túng trong bộ áo thầy tu. Tâm hồn phóng khoáng của ông tìm đến các tác phẩm văn học nghệ thuật cổ đại và thích giao du với những nhà nhân văn chủ nghĩa như Amy, Ghiôm, Buyđê. Không cảm thấy bị giam chân một chỗ, ông bèn chuyển sang dòng tu Bênêđichtanh, và làm thư ký cho Tổng giám mục. Trong thời gian này, ông theo chân Tổng giám mục đi kinh lý vùng Poatu. Năm 1528, Rabelais đã vứt bộ áo tu sĩ, từ giã tỉnh Poatu chật hẹp, đi Paris quyết học tập, nghiên cứu những lĩnh vực khoa học mà ông ưa thích. Năm 1530, ông vào học ở trường Y thành Mônpeliê, sau hai năm tốt nghiệp, ông đến làm việc ở một bệnh viện thuộc thành phố Lyon lúc bấy giờ được coi là thủ đô văn chương của nước Pháp. Được không khí văn chương và bạn bè cổ vũ, ông bắt tay vào viết, dịch, chú giải một số tác phẩm y học và thường đàm đạo với các nhà nhân văn danh tiếng như Êchiên Đôlê và nhiều nhà trí thức khác. Cũng tại đây, ông khởi bút bộ truyện Gacgăngchuya và Păngtagruyen và một số tác phẩm về sách lịch dân gian, sách thiên văn học.

Ông bắt tay vào viết, từ năm 1532 đến năm 1564 mới hoàn thành bộ Gacgăngchuya và Păngtagruyen là một bộ truyện gồm 5 quyển, được cho ra đời lần lượt từng quyển một. Ngay từ quyển đầu tiên, ông đã bị trường Đại học Sorbonne lên án kịch liệt. Đây là thời kỳ những thế lực phong kiến và tôn giáo phản động đang câu kết tiến hành đàn áp ác liệt đối với phong trào nhân văn chủ nghĩa và cải cách tôn giáo. Sách vở bị tịch thu đem đốt, nhiều trí thức bị bắt đưa lên giàn hỏa thiêu. Khi quyển thứ hai ra mắt, Rabelais đã phải bí mật trốn khỏi Lyon để đến với vị Hồng y giáo chủ Đuybelê, rồi cùng vị Hồng y sang Italia. Ông vẫn kiên trì và bí mật xuất bản quyển ba. Đến quyển bốn thì tình hình trở nên nguy hiểm tới tính mạng. Trường Đại học Sorbonne và Pháp viện phát lệnh truy nã tác giả, cấm lưu hành và tàng trữ tác phẩm của ông ở khắp nơi. Có tài liệu nói rằng ông đã bị bắt rồi nhờ sự giúp đỡ của Giám mục Đuybelê nên Rabelais đã thoát khỏi vòng hiểm họa được trở về làm Giám mục trông coi hai giáo khu nhỏ.

Bị truy bức và kết tội nhiều lần, vì tác phẩm Gacgongchuya và Păngtagruyen đã được viết bằng một tinh thần trào tiếu đặc sắc nhằm đả phá tư tưởng thần quyền và bạo lực, truyền bá những tư tưởng nhân văn mới mẻ. Quyển thứ năm phải chờ 10 năm sau khi ông qua đời mới được xuất bản (1564). Bộ tiểu thuyết có một không hai này có được sức mạnh nghệ thuật lớn lao và trở nên bất tử, một mặt bởi nó đã kết tinh được một cách xuất sắc văn hóa trào tiếu dân gian Trung đại và Phục hưng châu Âu, mặt khác nhờ tài năng sáng tạo to lớn và cặp mắt tiên tri thời đại của tác giả. Rabelais đã trở thành nhà văn hóa lớn của nền văn hóa Pháp và nhân loại

Pierre de Ronsard (1524-1585)

Perre de Ronsard (Pie đờ Rôngxa) là nhà thơ Pháp thời kỳ Phục hưng. Ronsard sinh ngày 11-11-1524 tại Văngđôm trong một gia đình dòng dõi quý tộc. Năm 12 tuổi, làm Kiếm đồng cho nhà vua.

Ông được đi nhiều nơi, ra cả nước ngoài, học được nhiều kiến thức văn hóa, nhất là văn hóa cổ Hy Lạp, thông thạo tiếng La tinh, Hy Lạp, tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm Homère, Pindare, Anacnréon, Virgile, Ovide, Horace, Petrarca, Dante... Gia đình có ý muốn ông trở thành nhà ngoại giao hoặc nhà quân sự. Nhưng năm 17 tuổi, ông bị ốm và bị điếc, nên rời khỏi cung đình và bắt đầu sáng tác văn học. Công bố thơ văn năm 23 tuổi. Xuất bản tập thơ tình Ơđơ đầu tiên năm 1552 mang tên Mối tình với Xacăngđrơ, tập Ơđơ thứ hai năm 1555 mang tên Mối tình với Maria. Tiếp đó, ông công bố Những khúc ca tán nữ. Ông trở thành người đứng đầu nhóm các nhà thơ trẻ Thất tình (Pléïade), một trường phái thơ nổi tiếng của Pháp ở thế kỷ XVI. 1560-1572, ông trở thành nhà thơ cung đình dưới triều Vua Charles IX. Năm 1573, Charles IX qua đời. Năm 1574, khi đã 50 tuổi, ông rời khỏi cung đình trở về sống ở nông thôn, tiếp tục sáng tác thơ ca. Ông mất ngày 27-12-1585 tại Xanhcônơ, thọ 61 tuổi.

Ngoài một số tác phẩm kể trên, ông còn là tác giả của các tập thơ và trường ca: La Phrăngxit (1574), Mối tình với Hêlen (1578)... Ronsard xuất hiện trên văn đàn Pháp và thế giới với tư cách là một nhà thơ nhân văn chủ nghĩa. Thơ ông toát lên tinh thần chống đối chế độ phong kiến, nhà thơ khắc kỷ, thần bí và trừu tượng, chống chiến tranh tôn giáo. Ông là nhà cách tân thơ ca lớn của Pháp ở thế kỷ XVI, đưa vào thơ những nội dung chân thực của đời sống và tình cảm trữ tình thắm thiết của con người. Thơ tình yêu của ông nói lên lòng yêu đời, hạnh phúc nơi trần thế, tình yêu Tổ quốc và dân tộc. Ronsard là người đưa thơ ca Pháp thoát khỏi nghệ thuật thi ca Trung cổ, bước vào thời Cận đại trong sự giải phóng khỏi hình thức khô cằn, công thức, tiểu xảo của thơ cũ, và đưa vào thơ những tư tưởng nhân văn hướng tới con người. Ông cũng là người mở đường cho thơ ca lãng mạn Pháp sau này.

Luis Vaz de Camoens (1524-1580) nhà thơ cổ điển Bồ Đào Nha

Luis vaz de Camoens (Lui vaz đờ Camôenx) là nhà thơ lớn thời Phục hưng của Bồ Đào Nha. Sinh ra trong một gia đình quý tộc lâu đời ở Galixơ, nhưng đã sa sút, Camoens vào học Đại học ở Côinbrê, nghiên cứu rộng các khoa triết học, thần học, văn học, sau được nhận vào làm trong triều đình, giao du rộng với nhiều nhân vật có thế lực. Do có kẻ cận thần tị hiềm mưu hại, tại một trận đấu gươm trong đám rước ngày hội, Camoens đâm trọng thương một quan hầu cận của nhà vua nên bị phát vãng đi Maroc làm lính trơn từ năm 1549-1551. Trong một lần chinh phạt người Môrơ, ông bị thương hỏng mắt phải. Sau đó, ông nhận lệnh đi Ấn Độ bằng đường biển, thoát chết trong vụ đắm tàu và đến được xứ Goa. Tại đây, năm 1555, ông viết tập ký châm biếm bọn thực dân thống trị Bồ Đào Nha với dân bản xứ nên suýt bị kết án tử hình, sau được ân xá và bị đi đày ở Macao (Trung Quốc). Năm 1561, nhờ một viên quan quen biết cũ, ông được trở về Ấn Độ. Do mâu thuẫn với bọn chủ nợ, ông chán nản bỏ đi Mozambique, một vùng thuộc địa khác của Bồ Đào Nha. Đến giữa năm 1570, Camoens mới được trở về Tổ quốc mình. Suốt những năm cuối đời, ông sống trong cảnh nghèo khổ. Ngày 10-6-1580, ông qua đời.

Tác phẩm của Camoens có tập ký Những chuyện điên rồ ở Ấn Độ (1555); có hơn 350 bài thơ xonnê, một số vở hài kịch như Phiđôđêmô (in năm 1587), Vua Xêlêucô (1564); trường ca sử thi Luydiađax (1572)...

Vốn là người có lương tri, giàu lòng nhân đạo, sáng tác của Camoens một mặt giàu chất trữ tình, giàu cảm thông, mặt khác lại giàu tính chiến đấu, mang tính phản kháng trước những bất công ngang trái trong xã hội. Tác phẩm xuất sắc nhất của Camoens là trường ca sử thi Luydiađax được coi là một kiệt tác, có ý nghĩa đóng vai trò khai sáng, có giá trị cổ điển cho nền văn học Bồ Đào Nha. Dựa vào một phần những sự kiện mà Camoens đã trải qua trong cuộc đời, đặc biệt trong chuyến vượt biển sang Ấn Độ, tác giả xây dựng cốt truyện về nhà thám hiểm Vasco de Gama cùng các nhà hàng hải tiến bước khám phá vùng biển Ấn Độ Dương, vượt qua các xứ Mêlinđơ, Mozambique... Về mặt tư duy sáng tạo, tác phẩm đan xen các chi tiết sự thật với hư cấu tưởng tượng, tượng trưng, thậm chí cả những chi tiết hoang đường, thần thoại và cổ tích về những xứ sở xa lạ, nơi đảo vàng có nữ thần, có người đẹp. Với 13 chương khúc, trường ca sử thi Luydiađax đã đóng vai trò quyết định trong sự hình thành nền văn học dân tộc, đưa ngôn ngữ Bồ Đào Nha đạt tới trình độ trong sáng, mẫu mực cổ điển.

Torquato Tasso (1544-1595)

Torquato Tasso (Torquatô Taxô) là nhà thơ lớn của Italia thế kỷ XVI, cuối thời Phục hưng. Ông sinh ngày 11-3-1544, là con trai nhà thơ Berllađôtaxô, phục vụ trong cung đình Giđôbanđô II, thuộc Công quốc Uôcbinô. Năm 16 tuổi (1560), học Luật tại Đại học ở Pađua, và sau đó học Triết tại Đại học ở Bologne, nhưng lại có thiên hướng văn học. Sau khi tốt nghiệp, làm việc cho Giáo chủ Luigi Đextê. Năm 26 tuổi (1570) đi Paris. Năm 1572 trở về Italia, phục vụ Quận công Anphôngxô II xứ Pherarê, và bắt đầu sáng tác văn học, được mọi người rất trọng vọng. Năm 1574, viết trường ca Gôphrêđô, bị các nhà phê bình cung đình phê phán là vi phạm đạo đức Gia tô giáo và nguyên tắc mỹ học của Aristote. Ông buộc phải xưng tội trước Tòa án giáo hội và phải sửa chữa tác phẩm. Năm 33 tuổi (1577), do bị giày vò tôn giáo, bị thất tình, ông trở nên u uất và mất trí, bỏ đi lang thang khắp nước Italia. Năm 35 tuổi (1579), trở về Pherarê, trong lúc điên khùng, ông đã công khai vạch tội Quận công và cận thần, nên bị giam vào nhà thương điên Xanh Anua 7 năm, 42 tuổi, được thả tự do. Tuy vẫn được trọng vọng, song ông luôn tự giày vò đau khổ, bỏ đi lang tháng khắp nơi trong 9 năm cuối cùng của cuộc đời. Ông mất tại La Mã ngày 25-4-1595 khi mới 51 tuổi trong sự kỳ bí và lạ lùng với người đời.

Cuộc đời Tasso trở thành truyền thuyết đối với các thế hệ nghệ sĩ lãng mạn. Nó tượng trưng cho sự xung khắc Tài - Mệnh, xung khắc Xã hội - Thiên tài. Con người ông với bi kịch cuộc đời đã trở thành nguồn cảm xúc cho nhiều sáng tác của những nghệ sĩ lớn của thế giới như Goethe, Byron, Batiushkov, Pushkin, Delacroix...

Tasso đã để lại một gia tài nghệ thuật quý giá cho nhân loại. Hàng trăm bài thơ trữ tình theo truyền thống Petrarca, với những sắc thái tình cảm biến chuyển tinh tế, với tiết tấu thơ tràn đầy nhạc tính và thiên nhiên diễm lệ, nên thơ... trong một thứ ngôn ngữ thơ độc đáo, trong sáng, đã đưa ông trở thành nhà thơ tiêu biểu của dân tộc Italia ở thế kỷ XVI.

Ông còn lại trên 2.000 bức thư có liên quan tới cuộc đời ông và những mối quan hệ của ông với xã hội lúc đó. Vở bi kịch Amita (1573) diễn tả mối tình mãnh liệt và đau khổ của chàng chăn cừu Amita với Nữ thần Xilvia, đạt tới đỉnh cao của thơ mục ca châu Âu. Vở bi kịch Vua Tơrixmônđô (1587) phản ánh mâu thuẫn đạo đức giữa tình bạn và tình yêu. Bảy ngày tạo lập thế giới (1594) là bản trường ca tôn giáo ca ngợi vai trò của tôn giáo với tồn tại thế giới. Những tác phẩm lớn nhất được cả thế giới ngưỡng mộ là bản trường ca vĩ đại Jérusalem giải phóng (1580). Tác phẩm được khởi thảo từ những năm 60 và kết thúc trong những năm 90. Jérusalem giải phóng là sự hợp nhất từ các trường ca Jérusalem, Rinanđô Gơpherêđô. Tác phẩm được hoàn chỉnh lần cuối cùng vào năm 1593. Tác phẩm diễn tả cuộc bao vây và đánh chiếm thành Jérusalem của các hiệp sĩ trong cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất (1099), giải phóng thành phố thiêng liêng của người Thiên Chúa giáo chống bọn chiếm đóng ngoại đạo. Tác giả miêu tả những cảnh chiến trận hào hùng, ca ngợi cuộc chiến đấu giành thắng lợi của đội quân Thiên Chúa giáo, đã tác động mạnh mẽ tới các dân tộc châu Âu đang chiến đấu chống lại quân Thổ xâm lược. Ngoài ra, trường ca còn diễn tả ba mối tình lãng mạn đầy cảm động, với lời thơ du dương, tế nhị, và miêu tả thiên nhiên lộng lẫy, tươi đẹp Jérusalem giải phóng là một kiệt tác đề cao tư tưởng nhân đạo, đề cao con người với lý tưởng Phục hưng chống lại cái vỏ đạo đức công dân tôn giáo giả dối…

Tasso trở thành một nhà văn lớn cuối cùng của thời Phục hưng ở Italia. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới văn học châu Âu, nhất là trong sáng tác của các nhà văn lớn như Voltaire (Pháp), Milton (Anh), Lope de Véga (Tây Ban Nha), Goethe (Đức), Byron (Anh), Pushkin (Nga)... Ông là một trong những người tạo dựng nên mầm mống của phong cách Baroque ở châu Âu.

William Gilbert (1544-1603)

Người đã có những công trình nghiên cứu, có tính chất mở đầu về hiện tượng từ và đã được đánh giá là nhà khoa học lỗi lạc nhất ở Anh dưới triều Nữ hoàng Elizabeth I. Là một trong những người đầu tiên đã chấp nhận phương pháp thực nghiệm theo nghĩa hiện đại.

Được đào tạo về y, ông bắt đầu làm nghề này từ năm 1573 ở London, sau đó mới chuyển sang nghiên cứu về từ và điện. Tác phẩm chính của ông: De Magnete, xuất bản năm 1600, trình bày toàn bộ các nghiên cứu của ông về các vật thể có từ tính và sự hút điện. Sau nhiều năm làm thí nghiệm, ông đã đi đến kết luận rằng kim nam châm sở dĩ nằm theo phương Nam - Bắc và chúc xuống phía dưới là bởi vì Trái đất đã tác dụng như một thanh nam châm. Những từ “điện” (electricity), “sự hút điện” (electric attraction), “lực điện” (electlic force) và “cực từ” (magnetic pole) là do ông đưa ra lần đầu tiên. Ông cũng còn được xem là nhà nghiên cứu lớn về các hiện tượng điện. De Magnete là công trình lớn đầu tiên về vật lý học ở Anh. Theo tuyên bố của Galilée, nó “vĩ đại tới mức độ làm người ta phải ghen tị”.

Ông tán thành quan điểm của Copernicus về sự quay của Trái đất xung quanh Mặt trời, ông khẳng định rằng các định tính không phải tất cả đều ở cách xa Trái đất như nhau và cho rằng các hành tinh được giữ trên các quỹ đạo của chúng là nhờ ở một loại lực từ.

Miguel de Cervantes (1547-1616)

Miguel de Cervantes (Mighen đê Xervantex) là nhà văn thời đại Phục hưng của Tây Ban Nha, sinh ra trong một gia đình quý tộc bậc trung ở thị trấn gần Thủ đô Madrid. Đến đời cha làm nghề thầy thuốc. Lúc nhỏ, Cervantes học ở ngoại ô, sau lớn mới tới Thủ đô và phấn đấu học xong đại học. Năm 22 tuổi, Cervantes sáng tác tập thơ xonnê tặng Hoàng hậu Isabelle, vợ Vua Philippe II (1569). Từ đó, chàng trai trẻ được Hồng y giáo chủ Accavina nhận làm thư ký và được đưa theo về Italia. Chính ở đây, ngay sau khi cha Accavina chết, ông gia nhập quân đội. Năm 1571, trong trận thủy chiến với quân Thổ Nhĩ Kỳ, ông bị thương cụt tay trái. Mãi đến năm 1575 mới được giải ngũ. Trên đường trở về Tây Ban Nha, ông bị quân Thổ Nhĩ  Kỳ bắt đưa sang Alger như một kẻ nô lệ, mãi đến năm 1580 mới được giải thoát. Do sống thiếu thốn, Cervantes lại xin nhập ngũ. Mãi đến năm 1584, mới ra quân và lấy vợ. Năm 1587, ông xin làm nhân viên thu mua quân lương, quân nhu. Trong thời gian này, ông sáng tác nhiều vở kịch, nhưng đều không có tiếng vang. Vẫn do túng thiếu, Cervantes lại thêm hai lần vào tù vì bị khép tội ăn cắp và lạm tiêu công quỹ. Trong các năm 1597 và 1602, cảnh nghèo khó bám riết theo ông đến mức ông phải cho cả vợ vào tu viện kiếm miếng ăn qua ngày. Mặc dù sống cùng cực, nhưng Cervantes vẫn đam mê viết văn. Trong khoảng năm 1602-1605, ông hoàn thành truyện Don Kihote (tiếng Pháp: Don Quichotte) phần đầu, nhưng sau đó có kẻ giả mạo cho in phần tiếp theo, nên ông càng quyết chí tỏ rõ tài năng. Lúc đầu, tòa án giáo hội cấm in, nên mãi đến năm Cervantes sắp sửa qua đời sách mới được xuất bản. Mấy năm cuối đời, Cervantes vẫn luôn sống trong cảnh túng thiếu cùng cực. Ông mất ngày 23-4-1616. Ở đời, kể cũng không nhiều những nhà văn sống vất vả triền miên như Cervantes.

Tác phẩm của Cervantes, ngoài tập thơ xonnê (1569) tặng Hoàng hậu Isabelle, còn có truyện dài Don Kihote (phần I in năm 1605, phần II in năm 1615), Thư bằng văn vần gửi Matêô Vaxkê (1613), trường ca Cuộc du ngoạn lên đỉnh núi Pacnaxơ trình bày cách đánh giá của ông về một số nhà văn đương thời (1613); các tập truyện ngắn: Làm gương gồm 12 truyện (1614), truyện Cuộc chu du của Pecđilex và Xơdixinunđa (1616) song không mấy thành công, và bỏ dở dang truyện Galatê...

Tác phẩm xuất sắc nhất của Cervantes chính là thiên tiểu thuyết Don Kihote, bao gồm hai phần với 15 chương, được viết ròng rã hơn mười năm trời. Cốt truyện mang màu sắc giả tưởng kể về chàng quý tộc nghèo Kihađa mắc bệnh vĩ cuồng, vì say mê các truyện hiệp sĩ nên quá mụ mẫm, lúc nào cũng tưởng mình là người hùng trong thiên hạ. Trong ảo tưởng chàng đã đánh nhau với cối xay gió, đã giao chiến với những đối thủ tưởng tượng và giành được những thắng lợi hoang tưởng. Cuối cùng, kiệt sức vì những cuộc phiêu lưu, chàng hiệp sĩ Don Kihote xứ Mantra trở lại nguyên dạng ông lão nghèo hèn Kihađa. Đến lúc này, lão mới tỉnh ngộ về sự tai hại do những truyện kiếm hiệp hoang đường, bèn viết lại di chúc trước khi qua đời. Đặt trong sự phát triển chung của tiểu thuyết thế giới, Don Kihote được coi là một kiệt tác. Tác phẩm chế giễu tàn dư của lý tưởng hiệp sĩ phong kiến, báo hiệu sự xuất hiện của thời đại Phục hưng với những con người mới, tính cách và nghị lực mới.

Lope Felix Carpio (1562-1635)

Lope Felix de Vega Carpio (Lôpơ Phêlix đờ Vêga Carpiô) là nhà thơ, tác giả sân khấu thiên tài người Tây Ban Nha, con trai của một gia đình thợ thủ công nghèo, học Đại học ở thành phố Ancala đơ Enanex, nhưng phải bỏ dở vì bố chết. Sau đó phải đi làm thuê kiếm sống, rồi bắt đầu sáng tác kịch cho các gánh hát ở Madrid. Vào quân đội, được chứng kiến sự tan rã của hạm đội Tây Ban Nha trước hạm đội Anh. Cuộc đời sáng tác và cuộc đời riêng của Lope de Vega trở thành huyền thoại về số phận nghiệt ngã đầy bi kịch của một con người tài năng, luôn mong muốn được hạnh phúc và mong muốn được cống hiến đời mình cho nghệ thuật, nhưng luôn bị số phận và kẻ thù tư tưởng tìm cách hãm hại. Sau khi vợ chết, ông lấy người vợ thứ hai, lại chết cùng với con trai ông. Quá đau khổ và bị kẻ thù công kích, ông lẩn trốn vào tôn giáo đi làm linh mục (1614). Nhưng ở đó, ông cũng chẳng được yên thân, các thế lực tôn giáo và chính trị phản động ra lệnh cấm và đốt các vở kịch đã in của ông, bức chế ông bằng nhiều thủ đoạn. Trong khi ấy, cuộc đời lại giáng lên ông những đòn tình cảm khác: con gái ông, một người bỏ đi tu, một người bị mất tích, người yêu của ông bị mù, mất trí rồi chết. Nhưng nhà văn vẫn không cam chịu số phận nghiệt ngã, ông vẫn viết cho đến khi từ giã cõi đời (27-8-1635).

Vega là một tài năng nảy nở rất sớm và có một sức sáng tạo mãnh liệt khiến ông nổi tiếng sớm không chỉ ở trong nước mà còn ở cả châu Âu và châu Mỹ. Ngoài những tác phẩm thơ ca và văn xuôi gồm 21 tập được viết gồm nhiều thể loại: trường ca thôn dã, trường ca luận văn, trường ca hài hước, thần thoại, phiêu lưu, thư bằng văn vần, thơ xonnê, tiểu thuyết, truyện ngắn..., ông còn viết khoảng 1.800 vở kịch, nay còn lại độ 500, và khoảng 400 vở kịch ngắn tôn giáo, hiện còn độ 50 vở. Về thơ ca, đáng kể hơn cả có bản trường ca Thời đại hoàng kim thể hiện lòng căm phẫn đối với xã hội bất công và tàn ác. Trường ca, luận văn bằng thơ Bàn về những nguyên tắc mới của nghệ thuật hài kịch trong thời đại chúng ta trình bày những quan điểm sáng tác của Vega, trong đó ông nhấn mạnh việc hài kịch phải thể hiện được hình tượng người bình dân và phải sáng tác theo yêu cầu công chúng. Thơ trữ tình của ông phát huy và nâng cao truyền thống thơ ca dân gian và là một bước tiến của thơ ca Tây Ban Nha. Những đóng góp lớn lao hơn cả của Vega thật sự là trong các vở hài kịch, ông chính là người sáng lập ra nền sân khấu dân tộc, được coi là bậc thầy về sân khấu, mở đường cho chủ nghĩa hiện thực ở Tây Ban Nha. Kịch của ông gần gũi với người dân, đề cao tài năng, trí thông minh, lòng dũng cảm cũng như những phẩm chất đạo đức đẹp đẽ của họ, chống lại sự phân biệt đẳng cấp và sự áp bức bóc lột của chính quyền chuyên chế, bọn lãnh chúa và nhà vua. Đỉnh cao trong những vở hài kịch thể hiện một cách sinh động cuộc đấu tranh và sức mạnh tập thể của nhân dân lao động trước sự chuyên chế của bọn quý tộc là vở Phuentê Ovêkhuna (1612-1613) và Ngôi sao xanh Xêvida (1617). Các vở Con chó của người làm vườn (1618) và Trừng phạt không trả thù (1631) đã phản ánh một cách sinh động cuộc sống bị ức hiếp của dân lành và tinh thần phản kháng của họ trước bọn quý tộc. Bên cạnh mặt tiến bộ, trong một vài vở kịch, Lope de Vega cũng thể hiện những hạn chế về tư tưởng khi giải quyết các đối kháng bằng cách thỏa hiệp, tin vào sự sáng suốt của các vị vua anh minh. Song, điều đó cũng không giảm bớt ảnh hưởng của cuộc đời và sự nghiệp của ông cho cuộc đấu tranh của các tầng lớp tiến bộ cũng như cho sự phát triển văn học Tây Ban Nha.

William Shakespeare (1564-1616), nhà thơ, nhà viết kịch Anh vĩ đại

William Shakespeare (Sêchxpia) sinh ngày 23-4-1564 tại thành phố Stratford on Âyvơn, là con thứ ba của thương gia John Shakespeare, người từng làm thị trưởng Stratford. Thuở nhỏ, được tiếp thu nền giáo dục mang tinh thần nhân văn chủ nghĩa và một vốn kiến thức phong phú về văn hóa Cổ đại. Năm 14 tuổi, vì gia cảnh sa sút, ông phải thôi học để kiếm sống. Năm 18 tuổi, lấy vợ là Anna Hathaway (Hathơuây), hơn ông 8 tuổi, sinh được hai con gái và một con trai nhưng mất sớm. Năm 21 tuổi, rời quê hương tới London lập nghiệp. Lúc đầu, xin làm tại đoàn kịch của Hầu tước Xtơgiengiơ và trải qua nhiều công việc: giữ ngựa, nhắc vở, diễn viên. Ông học hỏi được nhiều tri thức về sân khấu, lại có tài năng bẩm sinh, nên bắt đầu viết kịch. Năm 30 tuổi, gặp Bá tước Southampton và gia nhập đoàn kịch của Bá tước, trở thành một nhà viết kịch nổi tiếng nhất nước Anh. Tham gia sáng lập nhà hát có mái che đầu tiên ở Anh, mang tên Địa cầu, năm 1599. Năm 48 tuổi, trước cảnh sân khấu ngày càng đi vào con đường cung đình hóa, cầu kỳ, kiểu cách, ông rời bỏ London trở về quê hương. Bốn năm sau, ông mất tại biệt thự ở Stratford, đúng vào ngày sinh của mình (23-4-1616), thọ 52 tuổi.

Shakespeare là nhà văn vĩ đại sau cùng của phong trào nhân văn chủ nghĩa ở Anh thế kỷ XVII. Ông sáng tác trên 150 bài thơ xonnê, xuất bản năm 1609, miêu tả tâm trạng tác giả trong hoảng thời gian 15 năm, từ 30 đến 45 tuổi. Đây là thời kỳ huy hoàng nhất trong cuộc đời sáng tạo của ông. Lời thơ thanh thoát, sảng khoái, đầy tính lạc quan. Shakespeare chủ yếu sáng tác kịch. Kịch của ông vừa là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội, vừa là sự bộc bạch của tâm trạng nhà văn trước hiện thực lịch sử. Các nhà nghiên cứu thường chia cuộc đời sáng tác của ông làm ba giai đoạn, thể hiện ba trạng thái tâm hồn tác giả.

Giai đoạn l: trước năm 1600. Kịch Shakespeare diễn tả tinh thần lạc quan, tươi sáng đầy tính lãng mạn của một tâm hồn trẻ trung, yêu đời. Giai đoạn này, ông chủ yếu viết hài kịch: Hài kịch của những người hiểu lầm (1589), Uổng sức yêu đương (1591), Hai chàng quý tộc ở Vêrôma (1591), Giấc mộng đêm hè (1594), Chàng thương gia thành Venise (1594), Những bà vợ vui nhộn ô Uynxo (1598), Ầm ĩ mà chẳng có gì (1599), Đêm thứ 12 (1600)… Trong giai đoạn này, ngoài hài kịch, ông còn viết nhiều vở kịch lịch sử, phản ánh sự chiến thắng của các lực lượng tiến bộ chống lại tàn tích của thế lực phong kiến, như: Henri VI (1592), Risơt II (1593), Risơt III (1593), Vua John (1597), Henri V (1599)... Còn các vở bi kịch Romeo và Juliette (1594) là lời ngợi ca tình yêu chiến thắng lòng thù hận, Juyli Xêza (1599) là sự chuyển tiếp sang một tâm trạng khác.

Giai đoạn 2: 1600-1608. Đây là giai đoạn Shakespeare chủ yếu viết bi kịch. Các vở kịch phản ánh tâm trạng giằng xé, đau đớn của tác giả trước thực trạng lịch sử, khi chủ nghĩa tư bản đã thắng thế và bắt đầu mâu thuẫn với quần chúng, với con người. Bi kịch của Shakespeare thể hiện tinh thần phê phán và phủ nhận quyết liệt thực tế xã hội trong thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản, thời kỳ sản sinh ra những con người tham lam, ích kỷ, vô đạo, mâu thuẫn với lý tưởng mang tinh thần nhân văn của Shakespeare có một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đó là các vở bi kịch kiệt xuất: Hamlet (1601), Othello (1604), Macbet (1606), Vua Lia (1607), Taimơn ở Athènes (1608), Coriolan (1609)... đã trở thành bất tử trong kho tàng nghệ thuật thế giới.

Giai đoạn 3: 1609-1612. Kịch của Shakespeare phản ánh sự “hòa giải” giữa ông với thực tại xã hội. Nhiều vở kịch mang tinh thần phê phán, nhưng không căng thẳng, dữ dội như trước. Các nhân vật kịch rời khỏi không khí bạo kiệt của đối kháng xã hội, đi vào khung cảnh của thần thoại, nên thơ như Câu chuyên mùa đông (1611), đi tới những hoang đảo huyền ảo cách biệt với cõi đời như trong Cơn bão (1611)...

Kịch Shakespeare phản ánh sâu sắc những xung đột xã hội của thời kỳ Phục hưng ở Anh thế kỷ XVI-XVII, cũng như những xung đột trong tâm hồn tác giả. Toàn bộ tác phẩm của ông là lời ngợi ca con người trong tinh thần nhân văn chủ nghĩa.

William Harvey (1578-1657)

William Harvey (Uyliam Harvây) sinh ngày 1-4-1578 tại một cảng nhỏ ở miền Nam nước Anh. Ông đã học 5 năm tại trường Hoàng gia văn phạm ở Canterbury, và không theo nghề buôn bán của bố, mà thi vào trường Đại học Cambridge để học tiếp. Sau bốn năm, ông lại theo học ở trường Đại học Padoue ở Italia. Năm 24 tuổi, ông đỗ bác sĩ và trở về Anh để học tiếp khoa Y tại trường Cambridge, và năm 27 tuổi, Harvey lại đỗ Bác sĩ lần thứ hai.

Từ năm 29 tuổi, ông dạy học ở trường Y Hoàng gia, kiêm Bác sĩ phẫu thuật bệnh viện Saint Bartholomew. Năm 35 tuổi, Harvey được cử làm Giáo sư trường Đại học Y ở London.

Năm 40 tuổi, Harvey được mời làm Ngự y riêng của Vua Anh James I. Ông tranh thủ mọi thời gian rỗi rãi để mổ xẻ, và nghiên cứu chim, thỏ, rắn, nai, hoẵng...

Năm 1628, Harvey cho in cuốn Hoạt động của tim và máu động vật, trong đó ông dùng thực nghiệm để chứng minh máu đông vật tuần hoàn liên tục và lực đẩy của máu là sự co bóp của tim. Sách của Harvey chỉ dày có 72 trang, nhưng gây chấn động lớn ở châu Âu. Một số người quá khích gọi ông là “thằng mất trí”, “kẻ điên khùng”! Harvey lúc đó đã 50 tuổi, không hề nhụt chí và vẫn tiếp tục nghiên cứu.

Năm 73 tuổi, ông cho in cuốn thứ hai Về sự hình thành của động vật (năm 1651). Đó là sách về phôi học có giá trị nhất thời đó. Trang đầu có ghi câu: “Mọi sinh vật đều sinh ra từ trứng”. Sách này cũng không được ai hoan nghênh. Harvey tiếp tục sống khiêm nhường và thanh thản. Ông mất ngày 3-6-1657 ởlondon, thọ 79 tuổi.

Pavlov, nhà sinh lý học được suy tôn là “số một của thế giới”, giải Nobel năm 1904, đã nhận xét: “Ngày nay, thật khó tưởng tượng rằng trong cái tối tăm sâu thẳm và sự lẫn lộn mơ hồ bao trùm các quan điểm thời đó, và trong vòng vây của quyền lực, người thầy thuốc lỗi lạc Harvey lại phát hiện nổi một trong những chức năng quan trọng nhất của cơ thể, sự tuần hoàn máu. Harvey đã đặt nền tảng hiểu biết vững chắc cho một ngành khoa học mới: ngành sinh lý học động vật”.

Jean Baptiste van Helmont (1579-1644)

Từ thời cổ Hy Lạp, nhà triết học kiêm tự nhiên học Aristote đã nghĩ nhầm là cây lấy mọi nguyên liệu từ đất để lớn thêm. Helmont (Henmông) là người đầu tiên chứng minh sự nhầm lẫn đó.

Helmont sinh năm 1579 tại Hà Lan và mất năm 1644, thọ 65 tuổi. Năm 1630, lúc đã 51 tuổi, ông làm một thí nghiệm nay đã trở thành kinh điển. Ông đổ 90kg đất cát mịn vào một chậu gỗ và trồng lên đó một cây liễu con nặng 2,25kg. Hằng ngày, Helmont lấy nước mưa tưới cho cây.

Sau 5 năm, ông đánh cây lên, rửa sạch đất cát và cân lại. Cây đã nặng thành 258kg, nhưng trọng lượng đất vẫn như cũ, không suy suyển. Helmont kết luận: cây lớn không phải nhờ “ăn đất”, mà nhờ “uống nước”.

Joseph Priestley (Prixlây) sinh ngày 13-3-1733, tại một thị trấn nhỏ gần thành phố Leeds (Li) ở Anh, trong một gia đình thợ dệt rất nghèo. Bố mẹ mất sớm, Priestley được một bà dì nuôi. Cậu theo học 4 năm ở tu viện địa phương về thần học, triết học, các khoa học tự nhiên và tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về ngoại ngữ (về sau, Priestley đã đọc thông viết thạo 8 ngoại ngữ. Đức, Pháp, Italia, Hy Lạp, Ả Rập, Syrie, La tinh cổ và Do Thái cổ). Ở tu viện ra, ông được bổ nhiệm làm Linh mục, nhưng vì chống lại các điều sùng tín của đạo Gia tô, nên bị rút phép thông công và khai trừ ra khỏi giáo hội địa phương. Priestley chuyển sang dạy tư để kiếm sống một cách vất vả. Năm 1780, khi đã 47 tuổi, ông mới được nhà thờ nhận lại, làm Linh mục ở địa phận thành phố Burmingham. Nhưng vì ủng hộ công khai Cách mạng Pháp và tiếp tục chống đối nhà thờ, nên nhà cầm quyền đã sai người đốt nhà ông để trừng phạt và hủy các bản thảo đang viết dở của ông. Priestley phải chuyển lên London, và cuối cùng, năm 1794 phải đi cư sang cư trú ở Mỹ. Priestley mất vào tháng 2-1804, thọ 71 tuổi. Công trình khoa học lớn nhất của ông là đã phát hiện ra ô xy trong quang hợp của cây xanh, vào năm 1772.

Ông bỏ một ngọn nến cháy trong một cái chuông úp kín. Sau một thời gian, nến tắt do không khí đã bị “làm độc” (phlogibticated). Sau đó, ông đưa thêm vào trong chúng một cây bạc hà nhỏ, nến tiếp tục cháy. Priestley kết luận là cây đã sản xuất một chất có khả năng “làm lành” (dophlogisticate) không khí, mà ngọn nến cháy đã “làm độc”.

Về sau, ta đã biết là cây bạc hà lấy đi khí CO2 và nhả ra khí O2 (trong quang hợp).

Bảy năm sau, năm 1779, nhà tự nhiên học Hà Lan Yan Inghel Honz (Inghen Hao) lại chứng minh thêm: trong bóng tôi, cây xanh cũng “làm độc” không khí như cây nến cháy (hô hấp), chỉ “làm lành” không khí độc khi có ánh sáng (quang hợp).

Ba năm sau, năm 1782, một nhà tự nhiên học Hà Lan khác là Yan Seneber (Xênơbia) (1742-1809) đã hoàn chỉnh được bức tranh quang hợp của cây xanh bằng cách cụ thể hóa sự tuần hoàn chéo của CO2 và O2 qua thí nghiệm cho cây và chuột sống chung một thời gian lâu trong chuồng kín đặt ở chỗ sáng: chuột hô hấp (Lấy O2, thải CO2), còn cây thì vừa hô hấp (không mạnh) vừa quang hợp mạnh (lấy CO2 thải O2).

Như Vậy là những cố gắng cộng lại của ba nhà khoa học Hà Lan và một nhà khoa học Anh, đã giúp loài người bước đầu hiểu đúng thực chất của quang hợp, một hiện tượng cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống trên Trái đất. Quá trình quang hợp của cây xanh đã cung cấp cho Trái đất mỗi năm khoảng 200 tỷ tấn chất hữu cơ, nguồn thức ăn gốc của toàn bộ sinh giới, cũng như 20% ô xy của khí quyển, nguồn thở và ô xy hóa duy nhất của vật chất vô sinh và hữu sinh.



[1] Xem thêm phần phụ chú

[2] Xem thêm phần phụ chú

[3] Xem thêm phần phụ chú

[4] Xem thêm phần phụ chú

[5] Xem thêm phần phụ chú

[6] Xem thêm phần phụ chú

[7] Xem thêm phần phụ chú

[8] Xem thêm phần phụ chú

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Lịch sử Thế giới Vạn năm   Thế giới Trung đại   Vương quốc thần thánh bước sang vương quốc thế tục
Văn hóa phục hưng
“Utopia” và thành phố mặt trời”
Cải cách tôn giáo và chiến tranh nông dân ở nước Đức
Phát triển cải cách tôn giáo ở châu Âu
Hội Jésus (Dòng tên) và cải cách đạo Kitô
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google