Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Sự tìm kiến những hành tinh...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Thiên hà
Kính thiên văn và đài thiên...
Phân tử hữu cơ trong vũ trụ....
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Những người được giải thưởng...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông


III

Những đặc điểm chủ yếu
của văn hóa truyền thống Phương Đông

 

Văn hoá phương Đông rộng lớn về quy mô, lãnh thổ, đa dạng về màu sắc và có sự tồn tại rất lâu dài về mặt lịch sử. Khái quát cho đúng, cho hết những đặc điểm của văn hoá phương Đông quả là một công việc không hề đơn giản, nếu không nói là hết sức khó khăn. Đây là vấn đề phức tạp và còn phải nghiên cứu nhiều. Ở đây chúng tôi mới chỉ tập hợp và nêu lên một số nhận xét bước đầu.

1. Văn hoá phương Đông mang đậm tính chất nông nghiệp - nông thôn

Theo chúng tôi, tính chất nông nghiệp - nông thôn là đặc điểm nổi bật nhất, là bản sắc dễ thấy nhất của văn hoá phương Đông. Đặc điểm này thuộc về loại hình văn hoá: Văn hoá phương Đông chủ yếu là văn hoá gốc nông nghiệp, trong khi văn hoá phương Tây chủ yếu thuộc loại hình gốc du mục và thương nghiệp. Tất nhiên nói như thế không có nghĩa là trong văn hoá phương Đông không có các yếu tố du mục và thương nghiệp (như đã thấy qua việc khảo sát các khu vực văn hoá phương Đông vừa trình bày ở trên) nhưng nhìn một cách tổng thể thì bản sắc nông nghiệp - nông thôn và nét chủ đạo.

a. Xã hội phương Đông, như đã trình bày ở các trang trước, là xã hội nông nghiệp. Nền sản xuất cổ truyền của các xã hội phương Đông về cơ bản đều là nền sản xuất nông nghiệp. Điều kiện địa lí tự nhiên của các quốc gia phương Đông nói chung đều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Biểu hiện rõ nhất của các điều kiện này là sự có mặt của những con sông lớn: Sông Nile ở Bắc Phi; sông Tigrơ, sông Ơphơrat ở Tây Á; sông Ấn (Hindus), sông Hằng (Gangga) ở Ấn Độ; sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trường Giang) ở Trung Quốc; sông Mêkông ở bán đảo Trung - Ấn, sông MêNam ở Thái Lan, sông Hồng ở Trung Quốc, Việt Nam, v.v... Lưu vực các con sông này tạo ra những đồng bằng rộng lớn, vựa lúa của phương Đông và thế giới. Và cũng chính từ các dòng sông ấy đã xuất hiện các nhà nước cổ đại - các nền văn hoá - văn minh phương Đông. Rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà người ta lại đưa ra các cụm từ như “văn minh sông Hồng”, “văn minh sông Mã”, “văn minh sông Ấn - sông Hằng”, v.v… Có thể nói, ngay từ đầu, văn hoá - văn minh phương Đông đã là văn hoá - văn minh nông nghiệp. Và đặc điểm này “đeo đuổi” văn hoá phương Đông cho đến tận ngày nay.

Đường làng

Không chỉ trong lịch sử xa xưa, ngày nay nông nghiệp vẫn phổ biến ở nhiều quốc gia phương Đông. Các nhà khoa học cho biết hiện nay 90% diện tích trồng lúa trên thế giới nằm ở châu Á và sản lượng lúa gạo tại châu Á bằng 92% tổng sản lượng của thế giới. Như vậy rõ ràng là sản xuất nông nghiệp gắn chặt với các quốc gia phương Đông và đó là cơ sở tạo ra loại hình văn hoá gốc nông nghiệp, tạo ta bản sắc nông nghiệp – nông thôn của văn hoá phương Đông.

b. Tính chất nông nghiệp - nông thôn được thể hiện ở rất nhiều bình diện văn hoá và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của các nền văn hoá phương Đông.

Những biểu hiện của tính chất nông nghiệp - nông thôn của văn hoá phương Đông rất đa dạng. Có thể nêu ra ở đây một vài ví dụ.

Trước hết xin nói về văn hoá vật chất liên quan đến những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đó là ăn, mặc, ở, đi lại.

Nguồn lượng thực chính của người phương Đông chủ yếu là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra. Người phương Đông thường ăn cơn với các loại thực phẩm mang tính tự cung tự cấp như rau, cá và một số loại thịt gia cầm. Các loại gia vị, hương liệu như ớt, tiêu, rau thơm, cari... vốn là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp cũng được dùng phổ biến ở nhiều nơi. Vì thực phẩm mang tính tự cung tự cấp nên thường tươi, sống và người dân thường ăn nóng.

Cách ăn mặc của cư dân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp: Nói chung mặc ấm về mùa lạnh (hoặc ở xứ lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (hoặc ở xứ nóng); mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy...).

Nói chung, trừ một số khu vực dân cư theo loại hình kinh tế du mục nên ở lều di động, đa số cư dân còn lại sống trong một ngôi nhà cố định. Đó có thể là nhà “nửa nổi nửa chìm”, tức là đào sâu xuống lòng đất một chút, hoặc là ngôi nhà sàn tiện lợi về mọi mặt.

Trong số các phương tiện đi lại thì thuyền phổ biến ở nhiều nơi và hình thức di chuyển này ở phương Đông rõ ràng trước hết gắn với nông nghiệp - nông thôn sau đó mới đến yếu tố thương mại.

Không chỉ gắn liền với những yếu tố văn hoá mang “tính vật chất” phục vụ trực tiếp đời sống thường nhật của cơn người như vừa trình bày ở trên, tính chất nông nghiệp - nông thôn của văn hoá phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của khu vực.

Có thể nói bao trùm lên đời sống cư dân nông nghiệp phương Đông là niềm tin tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hoá dân gian như biểu diễn âm nhạc, múa hát, lễ hội. . . Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Trong lễ hội thường diễn ra các trò chơi và các hoạt động ca múa dân gian. Lễ hội vừa là dịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật để cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà ma, vừa là dịp để người dân vui chơi giải trí. Tín ngưỡng và các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian luôn gắn với cuộc sống của cư dân nông nghiệp, phản ánh sâu sắc nhịp điệu lao động và đời sống tinh thần phong phú của người dân. Tín ngưỡng bản địa và các lễ hội đã trở thành một nhân tố văn hoá đặc sắc gắn bó với các giá trị văn hoá nông nghiệp - nông thôn cổ truyền phương Đông.

Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì sơ khai khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên vào ý Trời. Vì vậy, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi - Tây Á đến đất nước mặt trời mọc, các quần đảo Đông Á, từ Bắc Á rồi lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn cho đến các đảo cực nam Indonesia. . . đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông, v.v…

Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa, v.v.

Ngoài tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, một loại tín ngưỡng nữa cũng khá phổ biến là tín ngưỡng phồn thực. Với ý nghĩa “phồn” - “nhiều”, “thực” - “nảy nở”, tín ngưỡng này mang triết lí sống điển hình cho cư dân nông nghiệp luôn hướng tới sự sinh sôi, là ước mong duy trì và phát triển sự sống. Trong cuộc sống lấy nghề nông làm vi bản, người dân không mong muốn gì hơn là mùa màng tươi tốt, gia súc đầy đàn, gia đình, con cái đông đúc đề huề. Để phát triển, theo qui luật tự nhiên cần có sự kết hợp giữa hai yếu tố khác loại là mẹ và cha, trời và đất. Bắt đầu từ thực tế cuộc sống, con người nông nghiệp phương Đông đã nâng tư duy phồn thực trở thành một tín ngưỡng quan trọng, gắn nó với hàng loạt nghi thức và lễ hội đa dạng, sống động. Những tín ngưỡng và lễ hội này vừa mang tính chất nguyên sơ, chân thực và thiêng liêng trong tâm thức vừa phản ánh tính chất đặc trưng chung của văn hoá nông nghiệp phương Đông.

Tín ngưỡng và lễ hội phồn thực được biểu hiện ở hai khía cạnh chủ yếu: thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối. Biểu hiện thờ sinh thực khí có ở nhiều nơi. Nhiêu tượng, tháp, hình trụ... được tạc, đắp theo hình các sinh thực khí nam nữ. Ở Ấn Độ và hàng loạt nước Đông Nam Á, người ta đều tìm thấy rất nhiều linga (sinh thực khí nam). Ngay ở thủ đô Seoul hiện đại ngày nay, ở nhiều nơi, kể cả trước cửa khách sạn cao sao, người ta cũng có thể trưng bày các hình sinh thực khí được đắp rất to. Một số nhạc cụ như chiêng, trống, dùi trống, v.v... cũng mang ý nghĩa biểu tượng của các sinh thực khí. Cũng có khi người ta lại lấy ngay những vật có sẵn hình sinh thực khí trong tự nhiên để thờ cúng. Chẳng hạn, ở Việt Nam cột đá hình sinh thực khí nam thờ ông Đùng ở Nhân Nghĩa, Lạc Sơn, Hoà Bình hay kẽ nứt Lỗ Lường hình sinh thực khí nữ được thờ ở Sở Đầm, Hòn Đỏ, Khánh Hoà, v.v…

Tính chất nông nghiệp - nông thôn còn được thể hiện qua các sinh hoạt văn hoá dân gian thư hát múa, biểu diễn âm nhạc. Các hình thức như hát đối (nhất là hát đối nam - nữ), hát ru con, hát đồng dao, v.v. đều có ở nhiều nước phương Đông, nhất là các nước Đông Nam Á. Những điệu múa mềm mại, uyển chuyển, nhịp nhàng mang nhiều âm hưởng của nhịp điệu lao động, mô tả các động tác cày cấy, gặt hái, v.v. cũng khá phổ biến. Múa phương Đông rõ ràng khác với nhảy của phương Tây. Các nhạc cụ phổ biến của phương Đông cũng được tạo ra từ những sản phẩm nông nghiệp (sáo, kèn, chiêng, trống...) và luôn mang “âm hưởng đồng quê”.

Nông nghiệp gắn liền với nông thôn. Tính chất nông nghiệp - nông thôn của văn hoá phương Đông được nảy sinh, nuôi dưỡng và phát triển trong một mô hình xã hội đặc biệt: mô hình làng xã. Các công xã nông thôn, theo cách nói của C. Mác, có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống văn hoá của cư dân nông nghiệp phương Đông. Có thể nói văn hoá làng xã với tính cộng đồng và tính tự trị cao là một nét nổi bật của văn hoá phương Đông.

Trong làng xã phương Đông, gia đình là một “đơn vị sản xuất”, ở đó vai trò của người phụ nữ rất quan trọng. Sự ra đời và tồn tại dai dẳng của chế độ mẫu hệ ở nhiều khu vực phương Đông, suy cho cùng, trên một khía cạnh nào đấy, cũng do đời sống nông nghiệp quy định. Và đó cũng là một biểu hiện của tính chất nông nghiệp - nông thôn của văn hoá phương Đông.

2. Về tư tưởng triết học và phương thức tư duy, phương Đông thiên về “chủ toàn” và tổng hợp

Theo nhận xét của GS Cao Xuân Huy, phương Đông, xét về tư tưởng triết học, thiên về chủ toàn, trong khi phương Tây thiên về chủ biệt. Khi nhìn nhận vấn đề, phương Đông thường chú trọng đến tính toàn diện, toàn thể, toàn cục. Tư tưởng triết học chủ toàn có quan hệ mật thiết với phương thức tư duy tổng hợp và phép biện chứng. Khi xem xét một sự vật, hiện tượng, người phương Đông thường nhìn nó một cách tổng thể, xem nó như một hệ thống - cấu trúc hoàn chỉnh, ở đó các yếu tố tạo nên chỉnh thể có quan hệ với nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau. Người phương Đông ít chú ý đến việc phân tích từng yếu tố tách “rời” như phương Tây mà quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa chúng. Có thể lấy ví dụ qua cách chữa bệnh truyền thống. Các thầy thuốc phương Đông thường xem cơ thể con người là một “chỉnh thể hệ thống”, do vậy sự tồn tại của các cơ quan trong cơ thể con người có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi một cơ quan nào đó bị yếu hoặc mắc bệnh thì các thầy thuốc Đông y thường không chỉ chữa cơ quan đó mà còn chú ý đến toàn bộ cơ thể. Khi toàn bộ cơ thể khoẻ thì sẽ “kéo” cơ quan bị yếu khoẻ lên. Trái lại, y học phương Tây lại nặng về phân tích và chú ý đến yếu tố, do vậy thường can thiệp trực tiếp vào cơ quan bị đau yếu trong cơ thể: đau chỗ nào thì tiêm, chích, cắt bỏ chỗ ấy. Dĩ nhiên, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó (vì vậy ngày nay ta mới đi theo cách Đông - Tây y kết hợp). Đau ruột thừa chẳng hạn, nếu không can thiệp bằng cách cắt bỏ kịp thời ngay chỗ đau thì chắc chắn sẽ gây hậu quả khôn lường. Tuy nhiên cách chữa không chú ý lắm đến “mối quan hệ giữa các cơ quan” của phương Tây nhiều khi cũng chưa ổn, chẳng hạn, chữa được khớp thì lại “bục” dạ dày do thuốc chữa khớp rất độc hại, rất “kị” dạ dày. Cách chữa bệnh của phương Đông tuy đòi hỏi thời gian nhưng chắc chắn, cơ bản và có tác dụng lâu dài.

Hiệu thuốc Đông y

Óc tư duy tổng hợp của phương Đông có mặt mạnh là giúp con người có cái nhìn toàn diện nhưng đôi khi cũng có hạn chế là dễ “bỏ qua” những tiểu tiết quan trọng. Óc phân tích của người phương Tây giúp con người có điều kiện đi sâu được vào các chi tiết. Có lẽ đó cũng là một trong những lí do khiến nền khoa học - kĩ thuật của phương Tây phát triển.

3. Trong quan hệ giữa người với người, văn hóa phương Đông nặng về tính cộng đồng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo. Cả hai phẩm chất này, suy cho cùng, cũng là do loại hình văn hoá gốc nông nghiệp chi phối. Trong sản xuất nông nghiệp, các gia đình nông dân cùng canh tác trên một cánh đồng, ruộng đất nhà này tiếp giáp ruộng đất nhà kia. Để có được năng suất, những người nông dân trong làng không thể không liên kết với nhau. Chỉ có đoàn kết con người mới chống được thiên tai. “Lụt thì lút cả làng” vì vậy chỉ có sự đồng tâm hiệp lực của cả làng, cả xã thì mới đắp được đập, làm đê ngăn nước. Muốn chống hạn, diệt sâu bệnh, chuột bọ, v.v... cũng cần sức mạnh của cả làng. Môi trường canh tác mang tính tập thể như thế chính là cơ sở để nảy sinh tính cộng đồng.

Đặc trưng này của văn hoá phương Đông khiến mỗi người khi hành động luôn luôn phải nghĩ đến cộng đồng, đến tập thể, xã hội. Trong làng, người dân thường tránh những việc làm phương hại đến tập thể. Từ đây nảy sinh quan điểm sống vì tập thể. Vì tập thể, người ta sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân. Cũng vì thế mà người phương Đông thường đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm (trong khi phương Tây thì coi trọng quyền lợi). Quả thực, trong việc chống chọi với thiên tai, dịch họa, nếu không có tinh thần trách nhiệm được đề lên thành nghĩa vụ thì không thể có được chiến thắng.

Những người trong làng sống nương tựa vào nhau, vì nhau, sống theo tinh thần cộng đồng, do đó họ đối xử với nhau rất có tình cảm. Mọi vấn đề nảy sinh đều được giải quyết bằng tình nghĩa họ hàng, bà con, làng giềng một cách mềm dẻo. Có người ví văn hoá ứng xử phương Đông mềm dẻo và linh hoạt như nước. Vì vậy mềm dẻo, trọng tình thực sự là một đặc trưng của văn hoá ứng xử phương Đông. Người ta sống với nhau bằng tình cảm thương yêu, bằng tinh thần cộng đồng, vì vậy sẵn sàng giúp đỡ nhau trong những lúc hoạn nạn, khó khăn, theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”. Lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng sự hiếu hoà. Từ tính cộng đồng, từ sự đùm bọc làng xã, san này truyền thống tốt đẹp ấy phát triển thành tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước phương Đông.

Nếu so sánh với văn hoá phương Tây thì cũng thấy một sự khác biệt nhất định. Có thể nói, trong quan hệ ứng xử, phương Tây thiên về cá thể, trọng lí. Đối với phương Tây, con người cá nhân được đề cao. Điều này có điểm mạnh là phát huy cao độ sức sáng tạo cá nhân, tránh được sự dựa dẫm theo kiểu “cha chung không ai khóc”. Hơn nữa lối ứng xử trọng lí giúp con người sống theo pháp luật một cách có ý thức - điều mà các xã hội nông nghiệp phương Đông phải phấn đấu rất gian khổ mới có được.

Những điều trình bày trên đây không có nghĩa là ở phương Đông chỉ có tính cộng đồng mà không có tính cá nhân còn ở phương Tây chỉ có tính cá nhân mà không có tính cộng  đồng. Tách bạch như vậy là siêu hình. Do đó, theo chúng tôi, cách nói “thiên về” cái này hay cái kia như các nhà nghiên cứu đã nêu là có cơ sở. Cũng có người cho rằng, ở Việt Nam, tâm thức duy cộng đồng luôn luôn chiếm ưu thế hơn so với tâm thức duy cá nhân[1]. Đây cũng là một cách diễn đạt có cơ sở. Nhận định này có thể áp dụng cho văn hoá phương Đông nói chung.

4. Trong quan hệ ứng xử với thiên nhiên, phương Đông nghiêng về hoà đồng, thuận tự nhiên

Đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên của văn hoá phương Đông thường được đặt trong sự so sánh với đặc điểm chinh phục tự nhiên của văn hoá phương Tây. Văn hoá phương Tây thiên về giải thích, cải tạo thế giới. Nói như C. Mác: “Vấn đề là cải tạo thế giới”. Tất nhiên nói như trên không có nghĩa là đối lập tuyệt đối giữa văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây trong vấn đề đối xử với môi trường tự nhiên.

Sống chung với lũ

Thái độ hoà đồng với tự nhiên của văn hoá phương Đông đã được hình thành từ rất lâu và định hình trên cơ sở của những quan niệm về con người trong các học thuyết Phương Đông. Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của tất cả các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các học thuyết triết học phương Đông truyền thống đều không đối lập với giới tự nhiên. Nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên[2]. Có thể cắt nghĩa đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên bằng cơ sở kinh tế - xã hội của phương Đông.

Trước hết có thể giải thích bằng nền sản xuất nông nghiệp. Như đã nói ở trên, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Một sự “nổi giận” của trời đất có thể làm cho toàn bộ công sức của người dân “tan thành mây khói”. Điều này có thể thấy rõ qua các trận bão gió, lụt lội, lở đất, động đất, núi lửa, v.v... Bởi vậy từ trong tâm khảm của người dân, tự nhiên là đấng tối cao. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả khi thuận theo tự nhiên. Một trong những biểu hiện của sự thuận theo ấy là tính thời vụ. Có thể nói, kinh nghiệm sống, nói cụ thể hơn là kinh nghiệm sản xuất, đã khiến cư dân nông nghiệp phương Đông phải hành động thuận theo tự nhiên. Trái ý tự nhiên, trái ý Trời sẽ bị trả giá. Đó là bài học có thể phải trả bằng đói khổ, nước mắt và tính mạng. Không còn cách nào khác, Nhật Bản vẫn phải “sống chung với động đất”, Indonesia phải “sống chung với núi lửa”, Philippines phải “sống chung với bão” còn đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thì phải chấp nhận “sống chung với lũ” như là một lẽ tự nhiên. Bài học về động đất và sóng thần ở Đông Nam Á và Nam Á (đặc biệt là đối với các nước Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanca) ngày 26 tháng 12 năng 2004 làm hơn 280.000.000 người thiệt mạng càng khẳng định sức mạnh cực kì to lớn của thiên nhiên mà con người không dễ gì có thể “chế ngự” nổi.

Một lí do khác, cắt nghĩa cho đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên là ở tổ chức của xã hội truyền thống phương Đông, đó là xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn. Chế độ này, như đã nói, mang đến cho mỗi đơn vị nhỏ bé (làng xã) một cuộc sống cô lập tách biệt. Công xã tổ chức theo lối gia đình tự cấp, tự túc: Con người bị trói buộc bởi những xiềng xích nô lệ của các quy tắc truyền thống, do đó hạn chế sự phát triển của lí trí, từ đó rất dễ trở thành nô lệ của những điều mê tín dị đoan. Những công xã nông thôn phương Đông, do vậy, hạn chế con người ở việc chủ yếu phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài, phục tùng tự nhiên chứ không có ý thức và năng lực làm chủ hoàn cảnh, chinh phục tự nhiên. Đây cũng chính là lí do để chế độ chuyên chế phương Đông tồn tại và phát triển.

5. Về phương thức sống, văn hoá truyền thống phương Đông trọng tĩnh, hướng nội và khép kín

Cuộc sống nông nghiệp luôn luôn cần một sự ổn định. Người dân thường rất sợ những điều xảy ra bất thường. Lối sống hài hoà với tự nhiên, tình cảm với mọi người, suy cho cùng, cũng là nhằm đạt tới sứ ổn định. Từ đây xuất hiện phương thức sống trọng tĩnh, hướng nội và khép kín.

Sống trong các công xã nông thôn cô lập, tách biệt, xét ở một góc độ nào đó, tính tự trị đồng nghĩa với hướng nội và khép kín. Trong xã hội phong kiến, mô hình làng xã “kín cổng cao tường” cùng với những thiết chế xã hội ngặt nghèo của nó càng làm cho “tầm thìn” của cư dân nông nghiệp không vượt khỏi “lũy tre làng”.

Cổng làng

Nền nông nghiệp tự cấp tự túc chỉ tạo ra được những sản phẩm vừa đủ để lưu thông trong phạm vi “chợ làng”, không trở thành hàng hoá thương nghiệp của nền kinh tế thị  trường kiểu phương Tây. Đó cũng là hướng nội, khép kín.

Lối sống trọng tĩnh, hướng nội và khép kín không thể tạo ra sự phát triển đột biến. Có lẽ đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm cho chế đố phong kiến phương Đông kéo dài sự trì trệ nhiều thế kỉ.

Trái với phương Đông, phương Tây trọng động, hướng ngoại và cởi mở. Điều này cũng dễ hiểu. Ở đó nền kinh tế thương mại và du mục buộc người ta phải năng động, phải đi tìm thị trường ở bên ngoài và mở rộng quan hệ.

Tiểu kết:

1. Ở trên, chúng tôi đã trình bày một số đặc điểm chủ yếu của văn hoá phương Đông. Vấn đề này, như đã nói, chỉ là những nhận xét bước đầu. Dưới đây là một vài nhận xét xuất phát từ cơ sở triết học của vấn đề.

Có thể nói muốn tìm hiểu được bản sắc văn hoá phương Đông thì phải xem xét cơ sở kinh tế - xã hội của nó. Nói như học thuyết Mác - Lênin thì đó là hạ tầng cơ sở hay tồn tại xã hội, bởi tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.

Xã hội phương Đông là xã hội nông nghiệp vì vậy văn hoá phương Đông là văn hoá gốc nông nghiệp và bản sắc nổi trội nhất của nó là tính chất nông nghiệp - nông thôn.

Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau buộc người ta phải cố gắng bao quát chóng. Từ đây hình thành lối tư duy tổng hợp và cách nhìn nhận toàn diện, mọi mặt (chủ toàn).

Để sản xuất nông nghiệp thu được kết quả, người dân không thể không dựa vào nhau, liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh cộng đồng. Tính cộng đồng vì vậy mà nảy sinh và phát triển. Và rồi quan hệ cộng đồng trở thành tiền đề cho quan hệ ứng xử mang tính mềm dẻo, coi trọng tình cảm hơn những quyền lợi vật chất.

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Làm trái tự nhiên là thất bại. Những bài học ấy đã “dạy” người dân phương Đông cách sống hoà đồng với tự nhiên và thuận theo tự nhiên.

Những gì bất thường của tự nhiên đều làm cho cư dân nông nghiệp lo lắng, thậm chí khiếp sợ. Vì vậy từ trong tâm thức, họ trọng sự ổn định và luôn muốn một cuộc sống tĩnh tại. Hơn nữa nền nông nghiệp phương Đông gắn liền với chế độ công xã nông thôn, với tổ chức làng xã cô lập, tách biệt đã làm cho cuộc sống của người dân khép kín, hướng nội.

2. Cơ sở kinh tế - xã hội của phương Đông, như vừa trình bày ở trên, có phần khác với phương Tây. Và sự khác biệt về cơ sở ấy đã quy định sự khác nhau về tư tưởng, triết học, triết lí của hai nền văn hoá[3].

Nói chung triết học phương Đông thường đi liền với tôn giáo (như triết học Ấn Độ) hoặc với đạo đức chính trị xã hội (như triết học Trung Hoa). Nhà triết học phương Đông được suy tôn là người hiền, hiền triết, minh triết. Trái lại triết học phương Tây, thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên. Nhà triết học của phương Tây thường là nhà khoa học, nhà bác học.

Mục đích của hai nền triết học cũng khác nhau: triết học phương Đông nhằm ổn định trật tự xã hội (như triết học Trung Hoa mà tiêu biểu là đạo Nho), giải thoát (hay siêu thoát như triết học Ấn Độ mà tiêu biểu là Phật giáo) hay hoà đồng với thiên nhiên (thuận thiên như Đạo giáo); triết học phương Tây thiên về giải thích và cải tạo thế giới.

Đối tượng của triết học phương Đông là xã hội, cá nhân con người, là cái tâm. Nói cách khác, triết học phương Đông lấy con người làm trung tâm. Chính vì vậy tri thức của triết học phương Đông chủ yếu nặng về xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh. Nghĩa là nó mang tính “hướng nội”, lấy trong giải thích ngoài. Từ đây có thể thấy triết học phương Đông có vẻ thiên về duy tâm. Đối tượng của triết học phương Tây rộng hơn: toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy. Vì vậy tri thức của triết học phương Tây cũng rộng hơn. Tuy nhiên tự nhiên được coi là gốc, là cơ sở, do đó triết học phương Tây thiên hơn về hướng ngoại, lấy ngoài giải thích trong. Điều này cũng có nghĩa là triết học phương Tây nặng về duy vật hơn triết học phương Đông.

Xét về phương pháp nhận thức, triết học phương Đông thiên về trực giác, trong khi triết học phương Tây thì thiên về tư duy duy lí, phân tích, mổ xẻ. Lối tư duy duy lí, phân tích, mổ xẻ của phương Tây làm cho khoa học kĩ thuật phát triển và kéo theo nó là sự phát triển của công nghệ, kĩ nghệ hiện đại. Lối nhận thức trực giác của văn hoá phương Đông rất phù hợp với đối tượng vận động, đặc biệt là khi triết học phương Đông lấy con người làm trung tâm. Trực giác, linh cảm ban đầu có thể là một gợi ý, một tia chớp lóe lên tức thì, giúp định hướng cho các phát kiến về sau.

Tóm lại, văn hoá phương Đông có những đặc điểm khác với văn hoá phương Tây. Theo một số học giả, sự khác biệt đó là như sau.

Khuynh hướng trội của phương Tây là hướng ngoại, chủ động, tư duy lí luận, hiếu chiến, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, cạnh tranh, bành trướng, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể...

Khuynh hướng trội của phương Đông là hướng nội, bị động, huyền bí, hoà hợp, quân bình, thống nhất, tâm lí, tâm linh, tập thể, tổng hợp, minh triết, trực giác, tôn giáo, hợp tác, giữ gìn, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ, v.v…[4]

 



[1] Nguyễn Kiến Giang, Đi tìm cách tiếp cận bản tính tộc người Việt. Trong cuốn “Văn hóa Việt Nam – Đặc trưng và cách tiếp cận”. NXB.GD , 2003, tr.34

[2] Hồ Sĩ Quý, Đông và Tây: Về triết lý “con người chinh phục tự nhiên” và triết lí “con người hoà hợp với tự nhiên”. Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, 2004, số 6, tr.12

[3] Nguyễn Hùng Hậu, Triết lí trong văn hóa phương Đông. NXB.ĐH Sư phạm HN, 2004, tr.9 - 16

[4] Nguyễn Hùng Hậu, Sđd, tr.15

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông
Sơ lược về lịch sử và các nền văn hoá phương Đông
Các khu vực văn hoá phương Đông từ góc nhìn khu vực học
Những đặc điểm chủ yếu của văn hóa truyền thống Phương Đông
Sự ảnh hưởng của các nền văn hoá phương Đông ra khu vực và thế giới
Các thành tựu và những mặt hạn chế của văn hoá truyền thống phương Đông
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Lịch sử Thế giới Vạn năm
Thế giới 5.000 năm
Văn hóa Phương Đông
Văn minh Phương Tây
Nền văn minh Châu Phi
Những sự kiện nổi tiếng thế giới
Lịch sử Mỹ thuật Viễn đông
Lịch sử hội họa
Các nền Văn hoá Thế giới (A-Z)
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google