Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Kế hoạch tìm kiến phân tử...
Vạch 21 centimét của nguyên tử...
Phòng thí nghiệm hóa học thiên văn
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Chiến lược tìm kiếm dấu vết...
Du hành trong dải ngân hà
Mô hình vũ trụ và "chất đen"
Những biến đổi của bề mặt Trái đất
Các nguồn năng lượng mới
Những kính viễn vọng hiện đại
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông


IV

Sự ảnh hưởng của các nền văn hoá phương Đông
ra khu vực và thế giới

Một đặc điểm khá nổi bật của văn hoá phương Đông là có sự ảnh hưởng mạnh của các nền văn hoá - văn minh lớn ra khu vực và thế giới. Có thể minh họa cho nhận xét này bằng việc phân tích một số ảnh hưởng của văn hoá Arập, văn hoá Trung Quốc và văn hoá Ấn Độ.

1. Văn hóa Arập có sự lan tỏa khá rộng

Văn hoá Arập chính là nền văn hoá của những người du mục sống trên sa mạc ở trên các vùng đất Arập. Nền văn hoá đó đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ và có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều khu vực ở châu Âu, châu Á và châu Phi: Dẫu rằng văn hoá Arập đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau, nhưng những đóng góp và ảnh hưởng của nó vẫn rất rộng rãi và sâu sắc.

Năm 650, 18 năm sau khi vị sứ giả cuối cùng Mohammed mất, người Arập tràn qua Lybia và Tunisi. Năm 827, hơn mười nghìn người Arập đến chinh phục Sicily và bắt đầu thời kì thống trị của họ trên hòn đảo châu Âu này. Năm 642, người Arập với ngọn cờ Islam đã thắng thế Ai Cập, Syria và Palestine.

Người Arập thống trị Sicily khoảng hai thế kỉ. Trong thời gian đó, họ đã lập nên hàng chục đô thị ở nước Italy ngày nay. Trong hai thế kỉ đó, dân số hòn đảo Sicily xinh đẹp tăng gấp đôi. Người Arập thay đổi toàn bộ xã hội Sicily, từ cách làm nông nghiệp đến việc ăn uống, sinh hoạt. Họ đem tới Sicily mô hình hệ thống tưới tiêu từ vùng sa mạc khô cằn. Họ gây dựng ngành tơ lụa ở Sicily. Họ trồng lúa, mía, bông và cam. Đường phố Sicily đầy chợ ngoài trời nhộn nhịp, sầm uất. Nhưng ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là ngôn ngữ. Từ khi người Arập đến Sicily, người Sicily nói hai thứ tiếng: tiếng Arập và tiếng Hy Lạp. Sicily trở thành thành phố thịnh vượng nhất châu Âu, với kinh tế phát triển, văn học nghệ thuật nở rộ.

Từ Sicily (thủ đô của đế chế Byzantine và sau này của Constantinop), người Arập chinh phục Tây Ban Nha, vươn tới Trung Hoa và Ấn Độ. Họ lật đổ người Xume và thống trị vùng đất giữa hai con sông Tigơrơ và Ơphơrat cho tới tận năm 3800 TCN. Họ tấn công Ba Tư ở phía Đông, bán đảo Sinai và toàn bộ vùng Địa Trung Hải ở phía Tây.

Văn hoá Arập ngày càng bám rễ sâu vào lãnh địa của người Norman dưới các vương triều của hai đế chế Byzantine và Constantinope, nhất là trên mảnh đất nghệ thuật và kiến trúc Người theo đạo Hồi (Muslim), người Do Thái giáo, người Kito giáo đã chung sống hoà bình trên mảnh đất Sicily. Ngày nay, các quận Kalsa, Cala, Cassaro vẫn còn nguyên vẹn những vết tích của nền kiến trúc pha trộn giữa hai phong cách Arập và Norman. Theo nhận xét của John Julius Norwich, một nhà nghiên cứu về Sicily thì Sicily hiên ngang đứng giữa lòng châu Âu - và hiên ngang đứng giữa một thế giới Trung cổ tối tăm như là một biểu tượng của sự khoan dung và khai sáng, một bài học cho mỗi con người phải học để hiểu cảm giác của những người có dòng máu và có niềm tin khác mình.

Cũng như ở châu Âu, văn hoá Arập có sức mạnh khá bền vững ở châu Phi và châu Á. Với 22 nước, Arập thuộc châu Phi và châu Á, cùng nói một tiếng nói chung là tiếng Arập, cùng chọn đạo Hồi (Islam) làm tôn giáo quốc gia, cộng đồng người Arập cho thấy một sức mạnh thống nhất về ngôn ngữ và tôn giáo. Văn hoá Arập đã nảy nở, lan toả và phát triển trên những mảnh đất vốn không phải là quê hương của mình. Nó để lại dấu ấn trong mọi biểu hiện của cuộc sống thường ngày của người dân, trong đời sống tôn giáo, trong kiến trúc - hội họa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Islam là đóng góp lớn nhất của văn hoá Arập và có ảnh hưởng lớn nhất đối với văn hoá thế giới. Bằng chứng là sự có mặt của Hồi giáo với tư cách là tôn giáo chính thức ở Indonesia, Malaysia, Brunei - những quốc đảo hùng mạnh ở Đông Nam Á, trong đó, Indonesia là quốc gia có số lượng tín đồ Hồi giáo đông thất thế giới. Ở khắp nơi trên các đất nước này, kiến trúc Hồi giáo, đặc biệt là kiến trúc nhà thờ Hồi giáo, rất phổ biến và giữ vai trò chủ đạo trong nền kiến trúc dân tộc. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ thấy ảnh hưởng của văn hoá Arập - Islam ở Đông Nam Á có sức mạnh đến mức độ nào!

2. Nhắc đến cống hiến của văn hoá Trung Hoa cổ đại đối với lịch sử nhân loại, không thể không nhắc tới “tứ đại phát minh”, đó là: la bàn, kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in ấn và thuốc súng

Từ cuối thế kỉ XII đến đầu thế kỉ XIII, la bàn được truyền sang Arập, từ đó sang châu Âu và đã đóng góp rất nhiều cho ngành hàng hải thế giới.

Sau thế kỉ VI, kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc được truyền sang Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản. Đến thế kỉ VIII, phương pháp này qua Thổ Nhĩ Kì truyền vào Arập, sau đó được truyền sang châu Âu.

Kĩ thuật in ấn của Trung Quốc cũng dần được truyền sang các nước làng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản, sau đó truyền sang Arập và châu Âu.

Vào thế kỉ XIII, thuốc súng và vũ khí mang thuốc súng của Trung Quốc đã lần lượt được đưa vào Ấn Độ, Arập và vào cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XIV được truyền sang châu Âu.

Ngoài bốn phát minh trên, một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác của Trung Quốc cũng có ảnh hưởng nhất định đối với văn minh nhân loại. Thuật luyện đơn (bào chế thuốc) của Trung Quốc sau khi truyền vào Arập, đã góp phần thúc đẩy kĩ thuật chế biến thuốc của nước này phát triển, sau đó kĩ thuật chế biến thuốc của châu Âu lại chịu ảnh hưởng của Arập và nền hoá học hiện đại sau này chính là được phát triển trên cơ sở kĩ thuật chế biến thuốc của châu Âu thời trung cổ.

Đồ sứ tinh xảo của Trung Quốc từ lâu đã nổi tiếng trên thế giới. Vào nửa cuối thế kỉ XV, kĩ thuật làm đồ sứ của Trung Quốc đã được truyền sang Italia, mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử chế tạo đồ sứ của châu Âu và còn ảnh hưởng cho tới ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà từ tiếng Anh “China” vừa có nghĩa là Trung Quốc lại vừa có nghĩa là đồ sứ.

Nền văn học rực rỡ và đồ sộ của Trung Quốc cũng có ảnh hưởng vô cùng rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới. Những tác phẩm văn học nổi tiếng như “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Tây Du Ký”, “Hồng Lâu Mộng”, “Thuỷ Hử”, “Liêu Trai Chí Dị”, “Kim Bình Mai”... đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và được các học giả nước ngoài đánh giá cao.

Nền nghệ thuật phong phú và thần bí của Trung Quốc đã khiến cho không biết bao nhiêu triết gia và nghệ thuật gia của châu Âu thán phục. Nhà khải mông tư tưởng Pháp thế kỉ XVIII Voltaire đã gọi Trung Quốc của phương Đông là “cái nôi của mọi nền nghệ thuật”.

Triết học Trung Quốc cũng có ảnh hưởng sâu sắc ở châu Âu vào thế kỉ XVII - XVIII. Triết gia Gottfried Withelm von Leibniz, người tiên phong của triết học cổ điển Đức, là triết gia đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của văn hoá Trung Quốc đối với sự phát triển của châu Âu. Khi nghiên cứu về phép toán cơ số 2, “Chu dịch” cổ đại của Trung Quốc đã cho ông những gợi mở vô cùng quan trọng. Năm 1701, một giáo sĩ Pháp trong bức thư gửi cho ông đã gửi kèm theo hai bản Dịch đồ, đó là “Phục Hi lục thập tứ quái thứ tự đồ” và “phục Hi lục thập tứ quái phương vị đồ”. Leibniz sau khi nghiên cứu kĩ hai bản vẽ này, cho rằng chính sự sắp xếp trong bát quái là sự thể hiện tư tưởng của phép tính “cơ số 2” đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Năm 1703, ông đã triển khai phép cơ số 2 sang bốn lĩnh vực cộng trừ nhân chia. Phép tính cơ số 2 có vai trò vô cùng quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng không có sự ra đời của phép tính cơ số 2, thì sẽ không thể xuất hiện lôgíc toán học và khoa học máy tính hiện đại ngày nay.

Khi các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần chiếm vị trí thống trị trong xã hội, ở châu Âu đã nổ ra phong trào khải mông tư tưởng. Sự phát triển của phong trào này đòi hỏi sự kế thừa tư tưởng của những người đi trước. Nhưng các trào lưu tư tưởng ở châu Âu thời trung thế kỉ lại có mối ràng buộc chặt chẽ với tôn giáo thần học, do vậy không thể đáp ứng được những đòi hỏi của các nhà khải mông tư tưởng. Và chính nền văn minh cổ đại Trung Hoa đã đem lại cho họ nguồn năng lượng mới. Đầu tiên, các nhà khải mông tư tưởng nhận thấy màu sắc tôn giáo trong triết học Trung Quốc rất mờ nhạt. Lý tưởng chính trị của Voltaire là hy vọng sau khi xoá bỏ được nền “tôn giáo thần học” dựa vào mê tín, sẽ xây dựng nên một nền “tôn giáo lý tính” đề cao lý tính, tự nhiên và đạo đức. Trong con mắt ông, Nho giáo của Trung Quốc chính là hình mẫu cho thứ “tôn giáo lý tính” này. Nhà khải mông tư tưởng Pháp Denis Diderot trong phần giới thiệu về Trung Quốc trong cuốn “Bách khoa toàn thư” cũng cho rằng, khái niệm cơ bản trong triết học Trung Quốc là “lý tính”. Ông đặc biệt ngợi ca Nho giáo, chỉ ra rằng Nho giáo chủ trương lấy “lý tính” và “chân lý” để trị quốc bình thiên hạ.

Ở Đức, trào lưu lấy “tôn giáo triết học” thay thế “tôn giáo thần học” cũng chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc. Georg Wilhelm Friedrich Hegel mặc dù rất coi thường triết học Trung Hoa, nhưng cũng thừa nhận rằng “nguyên tắc cơ bản mà người Trung Quốc thừa nhận là lý tính”. Ở Anh, các nhà khải mông cũng thường trích dẫn “lập luận của người Trung Quốc” để phản đối “Kinh Thánh”. Triết học truyền thống của Trung Quốc cũng có ảnh hưởng rất lớn ở Nga vào thế kỉ XIX.

Ảnh hưởng của triết học Trung Quốc đối với châu Âu không chỉ dừng lại ở thế kỉ XVIII. Mặc dù sau đó có những biến động nhất định, nhưng bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX, châu Âu lại xuất hiện trào lưu tình hiểu, nhu cầu giao lưu với văn học, nghệ thuật, triết học của Trung Quốc. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, châu Âu xuất hiện cuộc khủng hoảng văn hoá, trí thức châu Âu lại hướng tầm mắt của mình về phương Đông, hy vọng tìm thấy phương thuốc giúp châu Âu thoát khởi cuộc khủng hoảng này từ văn hoá phương Đông, đặc biệt là trong triết học và văn học Trung Quốc. Nhà xã hội học, triết học nổi tiếng người Đức Bertolt Brecht đã giành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu triết học cổ đại Trung Quốc. Ông đặc biệt quan tâm tới tư tưởng “phi công”, “kiêm ái” của Mạc gia, lý luận triết học tu thân trị quốc của Lão Trang và học thuyết “lấy nhu thắng cương” trong triết học cổ đại Trung Quốc.

Nhưng ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc đối với khu vực, đặc biệt là các quốc gia láng giềng vẫn rộng rãi và sâu sắc hơn cả. Lương Khải Siêu đã từng chia lịch sử Trung Quốc thành 3 gia đoạn: “Trung Quốc của Trung Quốc”, “Trung Quốc của châu Á” và “Trung Quốc của thế giới”; trong đó, giai đoạn từ khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc cho tới cuối triều vua càn Long nhà Thanh được coi và thời kì “Trung Quốc của châu Á” Trong 2000 năm lịch sử này, Trung Quốc đóng vai trò quan trong trên vũ đài lịch sử châu Á, văn hoá Trung Quốc đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quốc gia ở châu lục này, đặc biệt là Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á.

Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước làng giềng kề cận, có quan hệ truyền thống lâu đời. Vào năm 600, Nhật Bản đã cử sứ đoàn đầu tiên sang nhà Tuỳ, Trung Quốc và sự lớn mạnh của nhà Tuỳ đã để lại ấn tượng sâu sắc cho sứ đoàn Nhật Bản. Sau đó, Nhật Bản đã mô phỏng chế độ của nhà Tùy, căn cứ vào tư tưởng của Nho gia, tiến hành các cuộc cải cách và đạt được thành công rõ rệt. Sau khi nhà Đường thành lập, sự lớn mạnh thịnh vượng của nhà Đường với chế độ chính trị hoàn mỹ, quân đội lớn mạnh, nền văn hoá rực rỡ càng khiến cho Nhật Bản khâm phục bội phần. Vào năm 623, Nhật Bản lại cử sứ đoàn sang nhà Đường, từ đó về sau trong vòng 200 năm Nhật Bản liên tục cử 18 sứ đoàn sang Trung Quốc. Năm 645, Nhật Bản nổ ra cuộc .”Đại hoá cách tân” với tôn chỉ tối cao là “Đường hoá” (tức “Trung Hoa hoá”). Năm 718, Thiên Hoàng Nguyên Chính định ra “Dưỡng lão luật lệnh”, quan chế, binh chế, điền chế, thuế chế, học chế. . . được quy định trong đó đều là phiên bản của chế độ nhà Đường. Vào giai đoạn này, luật pháp của Nhật Bản về cơ bản áp dụng theo luật pháp nhà Đường, chỉ chỉnh sửa đôi chút để bản địa hoá. Trường học các cấp của Nhật Bản lấy kinh điển của Nho gia làm giáo trình, thờ cúng Khổng Tử. Nhật Bản coi Trung Quốc là quê hương của Phật giáo, nhà Đường có tông phái Phật giáo nào, Nhật Bản cũng có tông phái Phật giáo tương ứng. Nhật Bản còn sử dụng lịch pháp của nhà Đường, nhà Đường định ra lịch mới, Nhật Bản liền áp dụng nguyên mẫu. Trong xã hội, các tầng lớp nhân dân chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Đường, họ ngâm vịnh Đường thi, phát triển Đường họa (hội họa theo phong cách nhà Đường), hành Đường lễ, mặc Đường phục, ăn các món ăn kiểu nhà Đường...

Sự giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc với bánđảo Triều Tiên có lịch sử từ rất lâu. Vào thời kì nước Triều Tiên cổ (thế kỉ V TCN - thế kỉ I TCN), Nho học và chữ Hán đã được truyền vào Triều Tiên. Thời kì Tam quốc Cao Ly, Bách Tế, Tân La) (giữa thế kỉ I TCN - giữa thế kỉ VII), ba nước Triều Tiên đã du nhập văn hoá Trung Quốc với quy mô lớn bằng những con đường khác nhau: Cao Ly du nhập Nho giáo qua đường bộ, nổi bật là chế độ điển chương của Hán Nho; Bách Tế qua đường biển du nhập văn hoá miền Nam Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của tư tưởng học thuật đa đảng của Lục triều; Tân La lại gián tiếp chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc qua hai nước Cao Ly và Bách Tế.

Đến thời nhà Đường, ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La thường xuyên cử người sang nhà Đường học tập văn hoá Trung Quốc. Sau khi nước Tân La thống nhất Triều Tiên, liền xây dựng nhà nước theo mô hình chế độ chính trị của nhà Đường. Về học chế, Tân La xây dựng chế độ Quốc học, đến năm 747 (năm thứ 6 Cảnh Đức Vương) Quốc học được đổi thành Đại học giám. Đại học có tiến sĩ, dạy Nho học và Số học. Nho học phải học “Luận ngữ”, “Hiếu kinh”; “Chu Dịch”, “Thượng Thư”, “Mao Thi”, “Lễ Ký”, “Xuân Thu Tả Truyện” và “Văn Tuyển” là những môn học tự chọn. Số học thì lấy các sách “Nam khai”, “Cửu chương”, “Lục chương” của Trung Quốc làm giáo trình. Phong tục tập quán của Tân La cũng mang đậm bản sắc của văn hoá Trung Hoa, từ trang phục, tên họ cho đến các ngày lễ dân gian đều mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Phật giáo thời kì Tân La cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Trung Quốc.

Văn hoá Trung Quốc đến Việt Nam bằng một con đường riêng. Vào năng 179 TCN, nước Âu Lạc (một trong những Quốc hiệu trước đây của Việt Nam) bị thôn tính vào nước Nam Việt của Triệu Đà. Đến năm 111 TCN, nước Âu Lạc khi ấy thuộc nước Nam Việt, cũng bị thôn tính theo vào đế quốc Hán. Từ đó Việt Nam trải qua hơn 10 thế kỉ nằm dưới sự thống trị của dế quốc phong kiến phương Bắc. Đến năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đã mở ra một thời kì độc lập cho Việt Nam. Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, các triều vua Trung Quốc từ Hán tới Đường đã thi hành chính sách đồng hoá (tức Hán hóa) nhằm vĩnh viễn thôn tính Việt Nam vào Trung Quốc. Với bối cảnh lịch sử như vậy, văn hoá Trưng Quốc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với Việt Nam, đặc biệt là sự du nhập của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo.

Qua cư dân gốc Hán, Nho giáo và Đạo giáo đã dần ảnh hưởng vào cư dân gốc Việt vào văn hoá Việt. Hơn nữa, các quan thái thú, thứ sử, đô hộ lại có chủ trương đem lễ nghĩa của Nho giáo, phong tục văn hoá Trung Hoa phổ cập vào xã hội Việt. Vì vậy, ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam ngày càng lớn. Đạo giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng từ thời Tần (cuối thế kỉ II TCN), nhưng sự truyền bá của Đạo giáo vào Việt Nam chỉ phát triển mạnh vào cuối thời Đông Hán và trong thời Tam Quốc (khoảng thế kỉ III). Cùng với Nho giáo, đến đầu Công nguyên, Phật giáo từ bên ngoài dần thâm nhập vào Việt Nam không chỉ qua đường biển mà còn qua Trung Hoa. Từ thế kỉ IV trở đi, Nho giáo, Phật giáo và ĐẠO giáo ngày càng có ảnh hưởng rộng hơn trong xã hội Việt Nam. Dần dần, cùng với sự hình thành của giai cấp phong kiến người Việt thì Phật giáo, Đạo giáo và nhất là Nho giáo ngày càng có cơ sở vững chắc hơn.

Sự ảnh hưởng của văn hoá Hán đối với văn hoá Việt Nam nói riêng, văn hoá Đông Nam Á nói chung, còn để lại dấu ấn trong các lĩnh vực khác như cách ăn, mặc, ở, đi lại, phương thức sản xuất, quan hệ xã hội, ngôn ngữ, v.v… Về mặt ngôn ngữ chẳng hạn, hàng loạt từ Hán đã được du nhập vào các ngôn ngữ Đông Nam Á như vào tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Việt, tiếng Khmer. . . Dấu ấn của vãn hoá Trung Hoa còn được lưu lại ở các ngôi mộ, gạch cổ được xây dựng từ thế kỉ I đến thế kỉ VI mà người ta thường coi là sự nảy sinh một nền văn hoá - nghệ thuật Hán - Việt. Về âm nhạc, một số nhạc cụ Trung Hoa như khánh, chuông... cũng được người Việt và một số dân tộc Đông Nam Á khác tiếp nhận.

Có thể nói, đến thế kỉ VIII, cùng với sự du nhập ồ ạt văn hoá Trung Hoa như chữ Hán, Nho giáo, Phật giáo, chế độ chính trị - xã hội, khoa học kĩ thuật... vào các quốc gia Đông Á, thì giữa các quốc gia này với Trung Quốc đã hình thành nên một lãnh địa văn hoá riêng biệt mà trung tâm là Trung Quốc, hay còn gọi là “khu vực ảnh hưởng văn hoá Hán”. Cho đến thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây lớn mạnh tiến vào khu vực Đông Á, lãnh địa này mới bị phá vỡ, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn lưu lại và ảnh hưởng đến các quốc gia này cho tới ngày nay.

3. Văn hoá Ấn Độ chiếm một vị trí đặc biệt ở phương Đông vì vậy có những ảnh hưởng đáng kể ra khu vực và thế giới

Phát triển rực rỡ trong hàng ngàn năm, nền văn hoá Ấn Độ đã khiến nhiều người ngưỡng mộ. Trong bài giảng đọc ở Trường Đại học Cambridge, Anh, năm 1882, học giả người Đức nổi tiếng Max Muller đã nói: “Nếu chúng ta phải tìm trên toàn thế giới một nước được trời phú nhiều nhất về của cải, sức mạnh và vẻ đẹp thiên nhiên - trên một số điểm có thể coi là thiên đường trên mặt đất - thì tôi sẽ chỉ ngay vào Ấn Độ.

Nếu tôi được hỏi dưới bầu trời nào trí óc con người đã phát triển một cách đầy đủ nhất những năng khiếu hoàn hảo nhất của mình, đã suy tư sâu sắc nhất về những vấn đề lớn trong cuộc sống và đã tìm ra những lời giải của một vài vấn đề trên, hoàn toàn xứng đáng được sự chú ý của ngay cả những người đã nghiên cứu Platon và Kant - thì tôi cũng chỉ vào Ấn Độ.

Và nếu tôi tự hỏi mình rằng từ nền văn học nào mà chúng ta - những người ở châu Âu này, những người đã được nuôi dưỡng hầu thư hoàn toàn với tư tưởng của người Hy Lạp, La Mã và của một chủng tộc Xemít là người Do Thái, có thể rút ra được cái yếu tố điều hoà hiện đang cần nhất để làm cho cuộc sống bên trong của chúng la hoàn thiện hơn, toàn diện hơn, phổ biến hơn, thực tế là một cuộc sống thực sự con người hơn, không phải chỉ cho cuộc đời này, mà còn cho biến hình và vĩnh cửu - thì tôi lại chỉ vào Ấn Độ”.

Gần nửa thế kỉ sau, Romain Rolland cũng biết tương tự: “Nếu có một nơi nào trên bề mặt Trái Đất mà ở đó tất cả những ước mơ của con người đã tìm được một quê hương ngay từ thời kì nguyên sơ khi con người bắt đầu mơ ước về sự tồn tại của mình, thì đó là Ấn Độ”[1].

 Chính những thành tựu lớn lao đó của văn hoá Ấn Độ đã có sức thuyết phục và lan toả tạo ra những quê hương mới trên những vùng đất xa xôi.

Tại các nước ở châu Á, nhất là các nước Đông Nam Á, văn hoá Ấn Độ đã phủ một lớp khá dày lên văn hoá bản địa, tạo thành một dấu ấn nổi bật, không bao giờ bị phai mờ.

a. Vào đầu Công nguyên, nền văn minh của Ấn Độ đã bắt đầu lan ra ngoài vịnh Bengal vào Đông Nam Á qua cả đất liền lẫn hải đảo. Vào khoảng cuối thế kỉ thứ V sau Công nguyên, các quốc gia ở đây đã được tổ chức theo những qui tắc truyền thống của lý thuyết về chính trị của Ấn Độ hoặc đi theo tôn giáo về Đạo Phật và đạo Hindu của Ấn Độ tại Miến Điện, Thái Lan, Đông Dương, Indonesia và Malaysia ngày nay. Có học giả mô tả những vùng này là “vùng ngoại biên của Ấn Độ”. Nhiều học giả đã mô tả sự mở rộng về phía Đông của nền văn minh Ấn Độ trong hình ảnh là hàng loạt “đợt sóng” và quả thực, có những lý do khi cho rằng “những đợt sóng” này hiện vẫn còn đập vào bờ biển của các nước Đông Nam Á cho đến tận ngày nay. Trong cuốn lịch sử cổ đại của các quốc gia Ấn hoá vùng Viễn Đông, nhà nghiên cứu G. Coèdes đã nói đây là “Sự lan toả của một nền văn hoá có tổ chức, dựa trên quan niệm Hindu về vương quyền, được xác định đặc trưng bằng sự tôn thờ Hindu giáo và Phật giáo, hệ thần thoại Purana, tin theo Dharma và lấy sanskrit làm phương tiện diễn đạt”[2].

Các nền văn hoá của các nước Đông Nam Á hiện đại đã để lại nhiều dấu ấn của thời kì tiếp xúc lâu dài với văn hoá Ấn Độ. Một số ngôn ngữ của vùng này (Malay và Java chẳng hạn), chứa đựng một thành phần quan trọng những từ có nguồn gốc sanskrit và Dravidian, văn tự sanskrit đã từng là nguồn gốc của chữ Thái, chữ Lào, chữ Khmer...

Những dấu tích ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đến ngày nay vẫn còn hằn nổi trên các công trình kiến trúc, điêu khắc và các loại hình khác của văn hoá khu vực này. Các bộ sử thi vĩ đại, trong đó có Ramayana của Ấn Độ đã thâm nhập vào nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật của khu vực Đông Nam Á.

b. Đặc biệt, một đất nước có nền văn minh vĩ đại như Trung Quốc cũng đã chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hoá Ấn Độ qua sự tiếp nhận đạo Phật, Yoga, âm nhạc (nhất là đời Đường) thiên văn và chiêm tinh học... Và từ đây, văn hoá Ấn Độ với các thành tố của nó đã tiếp cận và để lại những dấu ấn sâu sắc đối với các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản trong cả đời sống hàng ngày lẫn những hoạt động có tính quốc gia như tang ma, kinh cầu hồn, lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, ăn chay... Đặc biệt là Thiền Tông đã phát triển rất mạnh và có tầm ảnh hưởng sâu rộng tại Nhật Bản. Thiền ăn sâu vào tiềm thức người Nhật, Thiền đã đi vào hoa vào trà vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân và cuối cùng, họ đã nâng chúng lên thành nghệ thuật như Trà Đạo, Hoa Đạo... Bản chất khiêm tốn mà sắc bén, nhân ái mà quật cường của người Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ cũng có thể được coi là kết quả từ sự thực nghiệm Thiền Định.

Chúng ta có thể đưa ra những nhận định bước đầu về sự tiếp thu văn hoá Ấn Độ tại vùng này như sau:

- Thời điềm du nhập văn hoá Ấn Độ tương đối muộn so với các nước ở Đông Nam Á.

- Có thái độ chủ động trong tiếp nhận, tuy có lúc thăng trầm nhưng nói chung, giới cầm quyền tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp nhận văn hoá Ấn Độ, đặc biệt và Phật giáo. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu hiện đại, đây là quá trình tự Ấn Độ hoá của các nước Đông Bắc Á.

- Việc tiếp nhận văn hoá Ấn Độ tại các nước này là tiếp nhận có lựa chọn, chủ động và kết hợp với các thành tố văn hoá bản địa, tạo nên sắc thái rất riêng, độc đáo, không thể trộn lẫn so với văn hoá Ấn Độ nói riêng và văn hoá thế giới nói chung.

c. Tại các nước châu Âu, ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ cũng vô cùng sâu rộng. Và điều đáng nói ở đây là sự quan tâm đặc biệt của các học giả châu Âu đối với nền văn hoá - văn minh Ấn Độ.

Châu Âu đến với Ấn Độ đầu tiên có thể là tình cờ và tò mò, nhưng dần dần, họ bị lôi cuốn bởi chiều sâu tâm linh của nền văn hoá và văn minh Ấn Độ. Mối liên hệ trực tiếp được thiết lập lần đầu tiên giữa châu Âu và Ấn Độ xảy ra vào một ngày đầy ý nghĩa lịch sử: ngày 20 tháng 5 năm 1498, khi Vasco Da Gama đi thuyền buồm tới cảng Calicut. Người Anh đầu tiên tới Ấn Độ là cha Thomas Stevens, một người theo đạo Thiên Chúa, đã tới Goa vào năm 1579. Ông là một trong những người châu Âu đầu tiên bày tỏ sự quan tâm tới các ngôn ngữ phương Đông...

Sự khám phá “bất thình lình” ra một nền văn học vĩ đại chưa từng được thế giới phương Tây biết đến trong nhiều thế kỉ là một trong những sự kiện quan trọng nhất kể từ khi khám phá lại kho tàng văn học cổ điển của Hy Lạp trong thời kì Phục Hưng. Cuốn Upanishads đã xuất hiện trước Schopenhauer như một sự thiên khải. Ông viết: “Trong toàn bộ thế giới không có sự nghiên cứu nào ngoài sự nghiên cứu về những căn nguyên đầy lợi ích và cao quí như cuốn Upanishads, nó là ánh sáng của đời tôi và nó cũng là ánh sáng cho cái chết của tôi”. Thông qua Schopenhauer và ngài Von Hartman, triết học sanskrit đã tìm được ảnh hưởng vững chắc cho các thế hệ tiếp theo tại nước Đức. Kant có mối quan tâm sâu sắc đối với văn hoá Ấn Độ và đã thuyết giảng nhiều về đất nước phương Đông vĩ đại này. Ông đã từng đánh giá những người theo đạo Hindu rằng: “Họ là những người lịch lãm, đó là lí do giải thích tại sao tất cả những quốc gia khác đều được khoan dung trong nền văn hoá của họ”...

Foster đã dịch Sakuntala la tiếng Đức vào năm 1791 Goeth và Herder thì chào mừng tác phẩm này cùng một niềm hân hoan như Schopenhauer đã làm đối với Upanishads. Lời giới thiệu của Goeth ở đầu vở kịch rất nổi tiếng:

Cái gì gợi nên những tháng năm ngọt ngào của tuổi trẻ

Và tất cả tâm hồn bị mê hoặc, quyến rũ không thể nào rời xa?

Liệu có gì là sự kết hợp giữa Trái Đất và Thiên đường nơi trần thế?

Ta gọi tên em, ôi Sakuntala!

Người phương Tây đã đáp lại văn hoá Ấn Độ: một số lớn các nhà thơ châu Âu, các nhà hùng biện, tiểu thuyết gia, nhà triết học tiếp tục mang ơn di sản văn hoá của tiểu lục địa Nam Á này. Họ đã từng nói rằng: Chúng ta phải biết ơn các nhà biểu tượng học đã giúp cho châu Âu tiếp cận Ấn Độ theo một quan điểm mang tính chất khoa học. Biểu tượng học bắt đầu với Ngài William Jones, người đã tuyên bố trong khi ông làm Chủ tịch của Hội Châu Á ở Bengal vào năm 1789 rằng các ngôn ngữ sanskrit, Hy Lạp, Latinh, có thể cả các ngôn ngữ Celtic và Teutorlic đã nảy sinh từ một nguồn chung. Chính điều này đã dẫn đến nền tảng của môn Triết học so sánh của Franz Bopp năm 1816; môn Tôn giáo so sánh (do Bumouf, Roth và Max Muller tiến hành) có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến hệ tư tưởng hiện đại mà ảnh hưởng của nó chỉ có thể so sánh với Thuyết Tiến hoá của Darwin.

Châu Âu cũng chú ý tới việc dạy học và cuộc đời của con người vĩ đại nhất trong các nhà cải cách tôn giáo của Ấn Độ là Gautanla Buddha. Các nhà tiên phong trong việc nghiên cứu đạo Phật là Burnof, Lassen, Rhys davids, Stcherbatsky và Trenckner. Các tác phẩm nghiên cứu ở trình độ cao về lịch sử, văn học, tôn giáo và ngôn ngữ Ấn Độ đã xuất hiện. Các học giả từ hầu hết các nước châu Âu đều tham gia vào công việc nghiên cứu này, không chỉ Anh, Pháp và Đức (là nhóm chủ yếu) mà còn Ba Lan, Na Uy, Thuỵ Sĩ, Đan Mạch… Việc nghiên cứu Ấn Độ theo kiểu phương Tây đã dẫn đến một hướng mới cho chính Ấn Độ, đồng thời sự hợp tác giữa các học giả châu Âu và Ấn Độ đã đem lại những kết quả tốt đẹp hơn bao giờ hết.

Ở Pháp, Lamartine, Victor Hugo và Alfred de Vigny là những nhân chứng cho sự say mê đối với Ấn Độ trong thế kỉXIX. Chủ nghĩa vị lai và chủ nghĩa biểu tượng nằm ở trong số các trào lưu văn học mới mà văn hoá Ấn Độ đã khơi dậy cảm hứng như Mallarmé hay Pierre Lori…

Ở Nga, Lép Tônxtôi có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của văn học phương Đông khi đang học tại Trường Đại học Kazan. Dần dần, sự quan tâm của ông đối với văn hoá Ấn Độ đã dẫn tới một sự hiểu biết nhất định đối với tư tưởng Ấn Độ. Ông đã cố gắng trộn lẫn những tư tưởng của Đạo Phật và tư tưởng của Ấn Độ giáo với những khái niệm của Thiên Chúa giáo. Nguyên tắc của Tônxtôi về việc không dùng bạo lực trong khi vẫn áp dụng những nguyên tắc khoan dung, nhân ái của đạo Thiên Chúa chủ yếu dựa theo quan niệm của đạo Phật về Ahimsa.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cũng qua ảnh hưởng của Tônxtôi mà một nhà văn nổi tiếng của Pháp đã hiểu được một cách sâu sắc tư tưởng Ấn Độ. Người đó chính là Romain Rolland (1866 -1944) hay còn được Gorki gọi là “Lép Tônxtôi của nước Pháp”, được Stefan Zweig gọi là “Lương tâm của Châu Âu”. Ông đã từng viết một chuyên luận về Gandhi và cuốn Khảo luận của tôi về huyền thoại và hành động của Ấn Độ, ông đánh giá rất cao sự kết hợp giữa cái nhìn nội tâm sâu sắc và các chính sách mang tính đạo đức trong tác phẩm của các học giả người Ấn Độ cũng nhấn mạnh đến sự hấp dẫn mang tính hoàn cầu của nó.

Sang đến thế kỉ XX, các nhà văn phương Tây đã đưa rất nhiều các khái niệm, từ vựng và biểu tượng của Ấn Độ vào trong tác phẩm của mình. Các tác phẩm của Ấn Độ như Sakuntala của Kalidasa kịp thời có mặt ở phương Tây, các vở kịch của R. Tagore được diễn ở khắp các nước châu Âu, châu Á... André Gide, người dịch rất nhiều các tác phẩm của R. Tagore đã cất cao giọng khi nói về nhà thơ: “Đối với tôi, dường như không có một nhà tư tưởng nào của thời hiện đại có thể xứng đáng với lòng kính trọng của chúng ta hơn Tagore. Tôi vui lòng cúi mình tuân phục trước Người như Người đã vui lòng cúi mình tuân phục để hát ca trước Chúa”[3].

Trong thế kỉ XX, văn hoá - xã hội Ấn Độ đã lôi cuốn rất nhiều các nhà nghiên cứu châu Âu. Người ta nghiên cứu Ấn Độ từ góc độ xã hội học (như Max Weber) tâm lý học (như C.G. Jung), từ hình thái kinh tế - xã hội (như K. Marx, Lênin), v.v... Ngoài ra, các học giả còn quan tâm đến những ảnh hưởng của Ấn Độ đối với phương Tây về các mặt kiến trúc, hội họa, âm nhạc...

4. Không chỉ các nền văn hoá - văn minh lớn mới có sức lan toả ra khu vực và thế giới, trong nội bộ một khu vực văn hoá - văn minh, một nền văn hoá nào đó cũng có sức lan toả mạnh

Nền văn hoá Đông Sơn của Việt Nam là một ví dụ. Khu vực ảnh hưởng của văn hoá Đông Sơn rất rộng. Chesnov cho biết: “Gần đây nhất, việc phân tích kĩ thuật luyện kim trên hiện vật đồ đồng vùng Kavkaz đã cho những kết quả thật bất ngờ rằng chúng ta đã chịu ảnh hưởng của những trung tâm luyện kim vùng núi Đông Dương, nơi mà, theo những kết quả đào xới gần đây, đồng đã tồn tại ít nhất là từ thiên niên kỉ thứ ba TCN”[4].

Nói đến văn hoá Đông Sơn không thể không nói đến trống đồng. Và điều đáng nói là trồng đồng Đông Sơn có mặt ở khắp các quốc gia Đông Nam Á.Và chính vì sức lan toả rộng, văn hoá Đông Sơn mới được coi là văn hoá của toàn khu vực chứ không chỉ của riêng Việt Nam.



[1] Trích theo Jawaharlal Nehru, Phát hiện Ấn Độ, NXB Văn học, Tập 1, tr.136

[2] G. Coèdes, Inscriptions du Cambodge, 1937,vol.I -VIII, Hanoi, tr.120

[3] Trích theo L. Renou, ảnh hưởng của tư tưởng đối với văn học Pháp, Adyar Library, 1948, tr.25

[4] Dẫn theo: Trần Ngọc Thêm. Sđd, tr.94

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông
Các khu vực văn hoá phương Đông từ góc nhìn khu vực học
Những đặc điểm chủ yếu của văn hóa truyền thống Phương Đông
Sự ảnh hưởng của các nền văn hoá phương Đông ra khu vực và thế giới
Các thành tựu và những mặt hạn chế của văn hoá truyền thống phương Đông
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Lịch sử Thế giới Vạn năm
Thế giới 5.000 năm
Văn hóa Phương Đông
Văn minh Phương Tây
Nền văn minh Châu Phi
Những sự kiện nổi tiếng thế giới
Lịch sử Mỹ thuật Viễn đông
Lịch sử hội họa
Các nền Văn hoá Thế giới (A-Z)
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google