Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Thiên hà
Một số dạng vượn - người và...
Sự va chạm giữa những thiên thể
Nguyên tố trong vũ trụ - hóa...
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Vũ trụ nguyên thủy - một máy...
Ứng dụng của laser - một thành...
Những người được giải thưởng...
Nguyên tử và phân tử trong vũ trụ
Những biện pháp phóng ngừa...
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông


V

Các thành tựu và những mặt hạn chế
của văn hoá truyền thống phương Đông

1. Các thành tựu

Các thành tựu của văn hoá phương Đông tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực dưới đây:

- Khoa học - kĩ thuật

- Triết học

- Tôn giáo

- Ngôn ngữ

- Văn học

- Nghệ thuật

a. Những phát minh lớn về khoa học - kĩ thuật

Phương Đông có những đóng góp đáng kể cho kho tàng văn hoá nhân loại về mặt khoa học - kĩ thuật[1].

Về mặt khoa học, đó là những phát kiến về toán học, thiên văn, địa lí, y học...

Ai Cập là mảnh đất toán học ra đời từ rất sớm. Người Ai Cập đã sáng tạo ra hệ thống chữ số thập phân, hệ đếm thập tiến vị mà biểu hiện của nó là những kí hiệu trong văn tự cổ để ghi các số 1, 10, 100, 1000. Người Ai Cập cũng đã giải được những bài toán về tính diện tích hình tròn, hình tam giác, tính thể tích hình tháp đáy vuông, giải được các phương trình có hai ẩn số. Văn hoá Lưỡng Hà cũng để lại dấu ấn về toán học. Lúc đầu người Sumer dùng hệ đếm lấy số 60 làm cơ sở như 1, 60, 600, 3600… Ngày nay hệ đếm này vẫn dùng để đo thời gian: 1 giờ = 60 phút, 1 phút = 60 giây hay một vòng tròn bằng 360 độ. Sau đó người Lưỡng Hà sử dụng hệ đếm lấy số 10 làm cơ sở. Người Lưỡng Hà sớm biết đến bốn phép tính: cộng, trừ, nhân, chia, biết khai căn bậc 2, bậc 3; biết giải phương trình bậc 2, rồi phát hiện ra định lí: trong một tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông... Trong văn hoá Trung Quốc, Tổ Xung Chi đã tìm ra được số Pi chính xác có 7 số lẻ nằm giữa 3,1415926 và 3,1415927.

Trong lĩnh vực thiên văn học, văn hoá phương Đông đã ghi những dấu ấn chói lọi. “Sự cần thiết phải tính toán những thời kì nước lên của sông Nile đã tạo ra thiên văn của Ai Cập”[2]. Người Ai Cập phác họa được sơ đồ các tinh tú, phát hiện được 5 hành tinh của hệ mặt trời là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Và từ việc quan sát thiên văn, đặc biệt là việc quan sát sao Lang để theo dõi mực nước sông Nile, người Ai Cập đã sáng tạo ra dương lịch (một năm có 365 ngày chia thành 12 tháng). Việc quan sát thiên văn của người Lưỡng Hà phát hiện ra sao chổi và các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao băng. Người Lưỡng Hà sáng tạo ra âm lịch (một năm có 354 ngày, chia thành 12 tháng, trong đó 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày). Người Trung Quốc từ thời Tần Hán đã phát minh ra nông lịch, chia thời gian một năm thành 24 tiết để nông dân theo đó sản xuất nông nghiệp. Vào thời Đông Hán, nhà thiên văn học nổi tiếng Trương Hành (78-139) đã nhận biết ánh sáng của mặt trăng chính là từ mặt trời mà có  được.

Kiến thức về địa lí của người Lưỡng Hà được thể hiện bằng việc lập được danh sách các dòng sông, thành phố, quốc gia; bằng việc vẽ sơ đồ thành phố Babilon, Nippur... Thậm chí người ta còn vẽ được cả bản đồ thế giới trên một tấm đất sét dù rằng rất sơ giản: trái đất hình tròn có dòng sông chạy quanh, dòng sông này thông với sông Ơphơrat... ở TrUng Quốc, không chỉ giỏi về thiên văn, Trương Hành còn rất giỏi về địa lí địa chất. Chính ông là người đã chế tác ra dụng cụ đo hướng động đất khá chính xác. Về phong thuỷ, người Ai Cập cổ đại có một phương pháp thuật tướng địa chí khi xây dựng Kim tự tháp. Tất cả các Kim tự tháp đều được xây dựng theo đúng hướng Nam - Bắc, cùng đường sức với từ trường trái đất: Các nhà khoa học ngày nay còn cho biết rằng lớp đá hoa cương phía trong Kim tự tháp có tính năng nạp điện để có thể hấp thụ và bảo tồn các tia vũ trụ, còn lớp đá vôi bên ngoài thì có khả năng ngăn chặn sự khuếch tán tia vũ trụ trong lòng Kinh tự tháp? bảo tồn được lâu dài các xác ướp.[3]

Nền y học phương Đông có những phát kiến đặc biệt. Từ tục lệ ướp xác, người Ai Cập hiểu rất tường tận về cơ thể người và rất giỏi về phẫu thuật. Tất cả các chuyên khoa như nội, ngoại, răng, mắt. . . đều được quan tâm. Người ta cũng coi tim là bộ phận quan trọng nhất nên khi ướp xác họ giữ tim riêng, không ướp cùng xác. Từ khoảng năng 1500-1450 TCN, một bộ Sách thuốc đã được người Ai Cập biên soạn, trong đó có nói đến các cách chữa bệnh và thuật ướp xác. Đối với người Lưỡng Hà, các bệnh thông thường về xương, gan, dạ dày, mắt, da liễu đều có cách chữa trị hiệu quả. Còn ở Trung Quốc, ngay từ thời Hán đã có nhiều thày thuốc giỏi như Trương Trọng Cảnh (tác giả cuốn “Thương hàn luận”, nói về cách chữa bệnh thương hàn), Hoa Đà (người đầu tiên ở Trung Quốc dùng phẫu thuật chữa bệnh), v.v... ở phương Đông, một điều đặc biệt trong việc chữa bệnh là đều dùng các loại thuốc từ thảo mộc. Truyền thống y học Ai Cập - Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, v.v. đều như vậy. Về vấn đề này, nhà y học Lý Thời Trân ngay từ thời Minh đã có một tác phẩm rất nổi tiếng nhan đề “Bản thảo cương mục”, ở đó ông không chỉ ghi lại 1.558 vị thuốc do tiền bối để lại mà còn đưa vào danh sách 374 vị mới. Tác phẩm này có vai trò quan trọng trong việc đưa nền y học Trung Quốc tiến thêm một bước mới.

Các kiến thức về hoá học cũng có những phát kiến của phương Đông. Người ta nói: rằng không có đóng góp của người Arập thì hoá học không trở thành một ngành học. Không phải ai khác mà chính người Arập đã chế ra nồi cất đầu tiên và gọi tên là al – ambik (nay tiếng Pháp gọi là alambic). Người Arập phân biệt được axit với bazơ, phân tích được nhiều chất hoá học do đó đã chế ra được nhiều loại thuốc phục vụ chữa bệnh.

Trong lĩnh vực sinh vật học, ngay từ thế kỉ thứ IX, một người Arập tên là Otman Aman Jahip đã dưa ra thuyết tiến hoá với nội dung: từ khoáng vật > thực vật > động vật > người. Người Arập thường chú ý đến thực vật, nhất là ghép cây, tạo ra các giống cây mới. Trong tác phẩm “Sách của nông dân”, nhà thực vật Avan đã nói về cách trồng và chăm sóc 585 loại cây, hướng dẫn cách ghép cây, chỉ rõ các triệu chứng và cách chữa bệnh cho cây.

Những phát kiến kĩ thuật quan trọng có thể kể đến là giấy, cách in, la bàn và thuốc súng.

Từ thế kỉ thứ 1 TCN nhờ sự phát triển của ngành dệt tơ tằm, người Trung Quốc đã tạo ra được cách làm giấy bằng tơ. Sau đó đến năm 105, giấy được chế tạo từ vỏ cây, giẻ rách, lưới cũ... Từ đó nghề sản xuất giấy phát triển mạnh.

Kĩ thuật in bằng bản khắc gỗ ra đời từ đời Đường. Đến thế kỉ XI (thời Tống), người ta phát minh ra kĩ thuật in chữ rời bằng đất sét nung. Đầu thế kỉ XIV, chữ đất sét nung được thay bằng chữ gỗ. Sau khi truyền sang Triều Tiên, chữ gỗ được thay bằng chữ đồng. Từ đó nghề in càng phát triển.

Một phát kiến quan trọng nữa là việc chế tạo được la bàn. Từ thế kỉ thứ III TCN, người Trung Quốc biết tính chất hút sắt của nam châm và đến thế kỉ thứ II TCN thì biết thêm về tính định hướng của nó. Đến thế kỉ thứ XI (thời Tống), người la biết cách thu từ tính bằng việc dùng sắt mài lên đá nam châm. Từ miếng sắt có từ tính ấy, người ta làm ra được la bàn. Việc phát minh ra la bàn đã tạo điều kiện rất thuận lợi để ngành hàng hải phát triển.

Việc phát minh ra thuốc súng có nguồn gốc từ việc luyện đan vốn được coi là thuốc trường sinh bất lão. Nguyên liệu được dùng để luyện là lưu huỳnh, diêm sinh và than củi. Nhưng việc luyện đan chỉ dẫn đến các vụ cháy nổ. Và thế là tình cờ thuốc súng được phát hiện. Có thể coi sự phát hiện này bắt đầu từ đời Đường, sau đó từ thế kỉ thứ X, thuốc súng được sử dụng để làm vũ khí. Từ thời Tống, thuốc súng được dùng để chế tạo tên lửa, cầu lửa, pháo, đạn bay...

b. Hai nền triết học nổi tiếng

Phương Đông đã đóng góp cho kho tàng văn hoá thế giới hai nền triết học nồi tiếng: triết học Ấn Độ và triết học Trung Quốc[4].

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định triết học Ấn Độ phát triển rực rỡ và có bản sắc riêng, rất độc đáo. Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lí tưởng hoà bình, bác ái. Theo J. Nehru, nền tảng thế giới quan, vũ trụ quan của Hinđu giáo nói riêng, văn hoá Ấn Độ nói chung, là học thuyết về mối quan hệ giữa Brahmon và Atman. Brahman là thực thể, là tinh thần của vũ trụ, là linh hồn của thế giới, là cái tuyệt đối, là Đại ngã. Đối với thế giới quan Ấn Độ, vạn vật của thế giới đều nằm trong thể đồng nhất và cái thể này chính là Brahman. Còn Atman, theo triết học Ấn Độ, là linh hồn cá nhân, linh hồn cá thể. Đó là cái ngã, cái tôi, cái ta hay Tiểu ngã. Brahman và Atman tuy phân biệt thành hai nhưng là một, chúng như sóng với nước. Sóng từ nước mà ra rồi sóng lại trở về với nước. Sóng là nước và ở góc độ nào đó, nước cũng là sóng. Brahman và Atman giống như không khí ngoài trời và không khí trong bình. Cái bình như cơ thể con người còn tam độc (tham, sân, si) giống như chiếc nắp đậy bình lại. Không khí trong bình lúc đầu cũng trong sạch, tươi mát như không khí ngoài trời nhưng sau bị nhiễm bẩn do bị bịt lâu ngày giống như ao tù. Đi trên đường Đạo là thanh lọc, làm cho không khí trong bình đỡ bị ô uế và đến một lúc nào đó thì nắp bình bị bật tung ra, tức thanh, sân, si không còn nữa, khi đó không khí trong bình cũng như không khí ngoài trời. Lúc đó Tiểu ngã hoà đồng với Đại ngã, ta với vũ trụ là một. Cái xảy ra trong vũ trụ cũng xảy ra trong ta, tức giác ngộ. Chính vì thế mà lưng của đạo sĩ Ramakishna cũng bị lằn những vết roi khi ông nhìn thấy đứa trẻ bị đánh, vì ông và đứa trẻ là một. Đây chính là cơ sở, là nền tảng triết lí sâu xa của lòng nhân từ, thương yêu hết thảy mọi chúng sinh. Có thể nói mối quan hệ giữa Brahman và Atman là nền tảng của thế giới quan, vũ trụ quan của người Ấn Độ, nó quyết định, chi phối toàn bộ các hệ tư tưởng Ấn Độ cổ đại.

Cũng theo I. Nehru, nếu như Brahman - Atman là nền tảng thế giới quan thì Karma - Samsara là nền tảng nhân sinh quan của triết học Ấn Độ. Karma là nghiệp, Samsara là luân hồi. Theo thuyết Samsara, con người không chết thật mà chuyển sang kiếp khác, tức là tái sinh trong vòng luân hồi. Sự luân hồi giống như côn trùng - nhộng - ngài. Nhìn bề ngoài chúng là những con vật khác nhau nhưng thực chất chỉ là sự biến hoá của một côn trùng mà thôi. Samsara gắn liền với Karma. Theo Karma, mọi hành động, việc làm, hành vi, cử chỉ, suy nghĩ, v.v... của con người đều có giá của nó. Mọi niềm vui, rỗi buồn, sự sung sướng hay đau khổ ở cõi đời này đều là kết quả của những hành động, việc làm từ kiếp trước. Và những việc làm, hành động ở kiếp này sẽ “gặt” kết quả ở kiếp sau.

Nguyên tắc chung là nhân nào thì quả ấy: nhân tốt quả tốt và ngược lại. Karma là toàn năng và ngoài ý muốn của con người, tức là mang tính khách quan.

Như vậy, xuất phát điểm của tư tưởng triết học Ấn Độ là vạn vật đồng nhất thể, do đó trong mỗi con người đều có bản thể vũ trụ. Bản thể vũ trụ của con người nằm ở trong TÂM. Tâm con người chứa rất nhiều điều bí ẩn, nhiều năng lượng, tiềm năng. Và nhiệm vụ của tư tưởng triết học là phải giải phóng những tiềm năng to lớn ấy.

Triết học Trung Quốc, nhìn tổng thể, có 4 vấn đề lớn, đó là: 1) Vấn đề cơ bản của triết học, 2) Vấn đề con người, 3) Vấn đề biện chứng, 4) Vấn đề luân lí, đạo đức[5].

Về vấn đề thứ nhất, trả lời câu hỏi thế giới do đâu mà có? triết học Trung Quốc cũng có hai trường phái. Trường phái duy tâm cho thế giới vạn vật do trời, do thượng đế sinh ra (Khổng Tử đề cao thiên mệnh còn Mặc Tử thì đề cao thiên chí). Trường phái duy vật cho sự giao cảm âm - dương sinh ra trời đất (Kinh dịch) hoặc ngũ hành tương sinh tương khắc sinh ra vạn vật (học thuyết ngũ hành).

Con người là vấn đề trung tâm, nổi bật trong lịch sử triết học Trung Quốc. Theo triết học Trung Quốc, con người vốn có một địa vị cao quý. Tuy nhiên không phải tất cả mọi vấn đề liên quan đến con người đều được đề cập. Ngay từ lúc đầu, triết học Trung Quốc đã khẳng định đầy đủ giá trị con người, thể hiện tinh thần nhân văn trên hết. Do vậy, về cơ bản, triết học Trung Quốc chỉ chú ý đến các mặt đạo đức, luận lí, hướng nội nhằm xoa dịu mâu thuẫn, ổn định xã hội. Về số phận con người, các nhà duy tâm giải thích bằng mệnh trời. Mỗi người có một mệnh riêng, số phận của mỗi người đã được an bài (Theo Khổng Tử, chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh; theo Mạnh Tử, địa vị xã hội của mỗi người đã được Trời sắp đặt từ trước). Các nhà duy vật thì chủ trương, trời chính là giới tự nhiên và con người có thể thắng được tự nhiên, tức thắng dược trời (Tuân Tử). Về mẫu người mà các nhà tư tưởng hướng tới, có thể kể đến:

Sĩ: Người có trình độ uyên thâm về kiến thức và tiêu biểu về đức hạnh.

Quân tử: Ngoài việc có kiến thức uyên thâm còn phải suy nghĩ và hành động đúng mực, luôn hoàn thiện bản thân, biết mệnh trời, vừa hoà hợp với người vừa giữ được bản lĩnh của mình, v.v…

Đại trượng phu: ở nơi rộng lớn của thiên hạ, đứng nơi chân chính của thiên hạ, thực hiện đại đạo của thiên hạ; là người phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Giàu sang không quyến rũ, nghèo hèn không đổi chí, uy vũ không khuất phục).

Thánh, thánh nhân: Có phẩm chất đạo đức tột đỉnh, trí năng tột đỉnh; hiểu biết đạo trời tình người.

Về phép biện chưng cũng có hai trường phái. Phái duy tâm chủ trương trời không đổi, đạo cũng không đổi (Đổng Trọng Thư). Phái duy vật chủ trương thuyết biến dịch, nghĩa là trời đất vạn vật luôn trong quá trình biến đổi theo một quy luật nhất định. Sự biến đổi ấy do hai mặt bên trong là âm - dương chi phối. Lão Tử cũng cho rằng trong thế giới, mọi thứ đều biến đổi. Nguyên nhân của sự biến đổi là do những mâu thuẫn bên trong. Và phát triển là sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt đối lập trong một sự vật (“họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ẩn nấp của họa”).

Vấn đề cuối cùng là luân lí, đạo đức. Theo Mặc gia, loạn lạc và sự suy đồi về đạo đức là do nhà cầm quyền không chính danh, không trọng sự giáo dục bằng lễ nghĩa, không biết thương yêu người: Lão Tử tìm nguyên nhân ở lối sống không thuận theo đạo, tức không thuận theo tự nhiên, ở việc không kìm được dục vọng, v.v… Người khuyên nên tránh xa danh vọng địa vị, công thành rồi thì nên lui về.

Luân lí đạo đức còn thể hiện ở học thuyết tam cương, ngũ thường, tam trong, tứ đức, v.v…

Trở lên chúng ta đã xem xét những đặc điểm chủ yếu nhất của hai nền triết học tiêu biểu của phương Đông, Cũng cần nói thêm rằng, trong mỗi nền triết học ấy, không phải các quan điểm đều thống nhất. Triết học Trung Quốc, như vừa trình bày, có cả duy vật lẫn duy tâm và đó là những quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề. Triết học Ấn Độ cũng vậy, có thể phân thành hai phái: phái Astika (Hữu) là hệ thống triết học chính thống thừa nhận quyền uy của thánh kinh Vêđa, bảo vệ triết lí tôn giáo Hindu, còn phái Nastika (Vô, tạm gọi là phi chính thống) thì bác bỏ thánh kinh Vêđa, đả phá triết lí Hinđu giáo[6]. Những sự khác biệt trên đây cho thấy bức tranh triết học phương Đông thật đa dạng, nhiều vẻ.

c. Sự xuất hiện các tôn giáo

Phương Đông là quê hương của hầu hết các tôn giáo lớn lên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà C. Mác nêu nhận xét: Ấn Độ nói riêng và phương Đông nói chung là chiếc nôi của các tôn giáo nhân loại, còn lịch sử phương Đông có dạng lịch sử các tôn giáo.

Dưới đây là một số tôn giáo chính có ảnh hưởng sâu rộng.

1. Bàlamôn giáo

Bàlamôn giáo (Brahmanism) là tôn giáo hình thành trên cơ sở kinh Vêđa do người Aryen từ phía tây bắc Ấn Độ đưa vào. Đạo này tôn thờ Brahma nghĩa là Đại Hồn - một ý niệm rất trừu tượng của kinh Vêđa. Những người theo tôn giáo này được gọi là Brahman (phiên âm Hán Việt thành Bàlamôn). Brahma là chúa tể của các vị thần, là nguồn gốc của vũ trụ và có quyền năng vô hạn. Ngài hiện ở ba ngôi với tư cách là thể thống nhất của ba vị thần: Brahma (thần sáng tạo), Visnu (thần bảo tồn) và Siva (thần phá huỷ).

Brahma

Visnu

Siva

Ngôi Brahma sáng tạo ra thế giới. Tượng hình của ngài là 4 mặt song chỉ có 3 thành hình. Đầu ngài có vòng hoa, râu rậm, 4 tay cầm 4 phần kinh Vêđa. Ngài khi thì cưỡi con thiên nga Hamsa, khi thì ngồi trên đóa sen mọc từ rốn của Visnu đang nằm trên mình rắn Naga.

Ngôi Visnu bảo tồn vũ trụ. Bốn tay của ngài cầm 4 lệnh bài: cái vòng, cái búa, cái tù và, cánh hoa sen. Đây là những thứ tượng trưng cho các chất tạo thành vũ trụ. Sự hiện diện của ngài ở nhiều tư thế, khi thì nằm trên mình rắn Naga, khi thì có dạng nửa người nửa chim, khi thì cưỡi chim thần Garuđa:

Ngôi Siva phá huỷ thế gian, vì vậy có nhiều tên gọi mang tính hung dữ: Ruđra, Aghora (người khủng khiếp), Ugra (người tàn nhẫn), v.v... Ngài mang trong mình chức năng của thần chết, quyền hạn của thần thời gian. Ngài thường cưỡi con bò thần Nanđin.

Bàlanlôn giáo sau được phát triển thành Hinđu giáo.

2. Hinđu giáo (Ấn giáo)

Hinđu giáo tiếp sau và hoàn chỉnh Bàlamôn giáo. Hindu giáo có một hệ thống thư tịch gồm hai bộ: Kinh và Kệ.

Kinh (Sruti) là Vêđa. Mỗi Vêđa gồm có 4 Samhita làm thành bộ:

- Rigvêđa (Tung): có đến 1080 bài tụng.

- Samavêđa (Ca)

- Yajurvêđa (Linh ngôn)

- Arthavavêđa (Phù chú)

Kệ (Smriti) gồm có:

- Purana: thoại (tức thần thoại)

- Sastra (luận): Trình bày, giải thích về những vấn đề cần thiết của con người, của xã hội như luận về đạo pháp, luận về bổn phận, luận về lạc thú, v.v.

Hinđu giáo, với sự bảo tồn và phát triển Bàlanlôn giáo, tiếp tục duy trì và củng cố chế độ đẳng cấp nặng nề Casta trong xã hội Ấn Độ.

Nếu như Vêđa giáo còn là tôn giáo của xóm làng ở thời kì sơ khai thì Hinđu giáo đã trở thành tôn giáo của quốc gia, của dân tộc.

Có điều đặc biệt là khác với nhiều tôn giáo luôn chủ trương sống ép xác khổ hạnh, coi đó là hành vi đạo đức thanh cao, Hinđu giáo, ngược lại, xem tình dục và tình yêu là sự thể hiện tự do cá nhân. Hơn nữa, đó còn được coi là hành động thăng hoa và sáng tạo của vũ trụ và của con người.[7] Hàng loạt công trình điêu khắc hiện còn tồn tại trong các đền tháp phương Đông đã nói lên điều đó. Đây là một trong những lí do để có thể nói rằng Hinđu giáo là tôn giáo rất “đời thường”.

3. Phật giáo

Quê hương của Phật giáo (Buddhism) là Ấn Độ. Người sáng lập ra tôn giáo này là Tất đạt đa (Siddhartha). Sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng và Thích ca Mâu ni (Xakia Muni). Thực ra, trước khi lập ra Phật giáo (vào khoảng thế kỉ V TCN), ông đã theo Bàlamôn giáo (Brahmanism). Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc đó, sự phân biệt đẳng cấp và sự kì thị màu da hết sức khắt khe. Bất bình trước những bất công đó và đồng cảnh với nỗi thống khổ của muôn dân, Tất đạt đa đã rời bỏ Bàlamôn giáo và tự mình đi tìm một tôn giáo khác. Sau 6 năm khổ hạnh tu hành tại núi Tuyết Sơn (vùng Uruvela, gần Gaya) vẫn chưa tìm ra được con đường mới, ông rời đến một nơi khác, ngồi dưới gốc cây Pipal (sau được gọi là cây Boddhi - “Bồ đề”) và tịnh tâm suy nghĩ. Sau 49 ngày tu luyện, trí óc Siddhartha sáng tỏ. Ngài đã hiểu ra được quy luật của cuộc đời và nỗi khổ đau của dân chúng. Từ đó Ngài cùng với 5 người bạn đi khắp nơi để tuyên truyền tư tưởng của mình. Ngài được tôn là Buddha (Đấng Giác Ngộ, người Việt gọi là Bụt, Phật) và trở thành người sáng lập ra Phật giáo.

Phật Adidà

Thực Chất của Phật giáo là học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát. Đức Phật đã từng nói: “Ta chỉ dạy một điều: khổ và khổ diệt”.

Giáo pháp của Đức Phật được trình bày đầy đủ trong “Tứ diệu đế” (bốn chân lí kì diệu): Khổ đế (bản chất nỗi khổ), Tập đế hay Nhân đế (nguyên nhân của nỗi khổ), Diệt đế (cảnh giới diệt khổ) và Đạo đế (cách diệt khổ). Trong bốn diệu đế này, ba diệu đế đầu tiên thiên về triết lí còn đế cuối cùng (Đạo đế) là phần hướng dẫn thực hành cuộc sống đạo đức để đạt được mục đích diệt đế. Nói một cách đơn giản, theo Đức Phật, cuộc đời là bể khổ. Khổ do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi thứ ước muốn, dục vọng và do sự ngu dốt gây ra. Muốn hết khổ, con người phải loại trừ các nguyên nhân gây ra nỗi khổ, tức là phải diệt dục và thực hiện Niết bàn.

Đức Phật đã chỉ ra bát chính đạo (tám nẻo đường chân chính) để diệt khổ: 1 - chính kiến (kiến giải chính xác), 2 - chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn), 3 - chính ngữ (lời nói chân thành, chính xác), 4 - chính nghiệp (làm việc tốt), 5 - chính mệnh (cuộc sống chính đáng, lượng thiện), 6 - chính tinh tiến (tiến lên một cách chính đáng), 7 - chính niệm (nhớ, nghĩ những điều tốt lành, chính đáng) và 8 - chính định (tĩnh tâm, tập trung tư tưởng vào một việc).

Trong “bát chính đạo” nêu trên, chính kiến, chính tư duy và chính tinh tiến thuộc lĩnh vực khai sáng trí tuệ (tuệ); chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng thuộc phạm vi rèn luyện đạo đức (giới) còn chính niệm và chính định thì nằm trong lĩnh vực rèn luyện tư tưởng (định).

Sau khi Đức Phật qua đời (khoảng năm 483 TCN), nhiều hội nghị kết tập kinh Phật được tổ chức. Tại hội nghị kết tập kinh Phật lần thứ hai (cách thời điểm Đức Phật qua đời 100 năm), một số chư tăng đòi thay đổi một vài điều trong giới luật. Tại hội nghị lần thứ ba, nhóm chư tăng theo xu hướng cải tổ còn đòi thay đổi cả kinh pháp. Càng về sau, ý kiến càng không thống nhất. Điều này dẫn đến sự ra đời của hai trường phái Phật giáo. Trường phái Thượng toạ hay Trưởng lão (Thelavada) chủ trương không thay đổi những gì mà Đức Phật đã đề ra và Trường phái Đại chúng (Mahasanghika) chủ trương mở rộng kinh Phật. Sau này, trường phái Đại chúng tự nhận là Đại thừa (Mahayana) và coi trường phái cổ điển là Tiểu thừa (Hinayana).

Phái Đại thừa với nghĩa “cỗ xe lớn”, “con đường cứu vớt rộng”, ngụ ý chở được nhiều người. Phái đại thừa phát triển lên phía bắc (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, v.v.) nên được gọi là Bắc Tông. Phái Tiểu thừa với nghĩa “cỗ xe nhỏ”, “con đường cứu vớt hẹp”, ngụ ý chỉ chở được một số người. Phái này phát triển xuống phía nam (nhất là Đông Nam Á) nên được gọi là Nam Tông.

4. Hồi giáo (Islam giáo)

Hồi giáo (Tiếng Arập: Islam với nghĩa gốc là “phục tùng”, Muslim “tín đồ Hồi giáo”) gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước Arập, ra đời vào đầu thế kỉ thứ VII. Người sáng lập Hồi giáo là Mohamad. Mohamad xuất thân từ một bộ lạc có thế lực ở Mecca. Từ năm 610, ông bắt đầu truyền bá đạo Hồi. Năm 622 bị tầng lớp quý tộc Mecca chống đối, ông phải rời lên phía bắc, cách Mecca 400 km. Năm đó được gọi là năm thứ nhất của kỉ nguyên Hồi giáo. Mohamad tự xưng là Tiên tri. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, đến năm 630 Mohamad triệu tập được 10.000 người theo mình trở lại Mecca. Từ đây Mecca bị khuất phục. Mecca trở thành Thánh địa của đạo Hồi. Ông trở thành người đứng đầu nhà nước Arập mới thành lập.

Cầu nguyện

Hồi giáo là một trong ba tôn giáo có số lượng người đi theo nhiều nhất: khoảng 600 triệu. Người ta thường cho rằng giáo luật của đạo Hồi thuộc vào loại “khắt khe” nhất trong số các giáo luật tôn giáo. Đại để, giáo luật đạo Hồi có mấy điểm đáng chú ý như sau:

- Tin vào một Thượng Đế duy nhất là Đức Thánh Allah, do đó, ở bản địa (nơi sinh ra đạo Hồi), người ta chỉ thờ cúng duy nhất đức anh linh này (chứ không thờ tổ tiên, họ mạc). Đây là tôn giáo nhất thần tuyệt đối. Tuy nhiên, người ta không thờ ảnh tượng vì cho rằng Allah toả sáng khắp nơi, không một hình dáng nào có thể thể hiện được Ngài.

- Tin tưởng vào sứ mạng của giáo chủ Mohamad.

- Cầu nguyện mỗi ngày 5 lần (ở nhà, ở nhà thờ hoặc ở phòng cầu nguyện)

- Hàng năm thực hiện một tháng kiêng khem (ăn chay) vào tháng Ramadan (tháng thứ 9 theo Hồi lịch). Trong suốt tháng này, người theo Hồi giáo phải không được ăn, uống, hút và sinh hoạt vợ chồng vào ban ngày, tính từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Luật này không bắt buộc đối với người ốm, phụ nữ có thai và trẻ em.

- Đóng góp cho Đạo 10% tổng thu nhập của mình.

- Không ăn thịt lợn dưới bất kì hình thức nào. Không uống rượu, bia.

Ngoài những điều luật chính như trên còn có một số điều khác tuy không mang tính bắt buộc nhưng vẫn thường được thực hiện ở nhiều nơi, chẳng hạn:

- Trong đời ít nhất có một lần hành hương tới Thánh địa Mecca.

- Nam giới đạo Hồi có thể lấy tới bốn vợ nhưng phải tôn trọng nguyên tắc khi lấy vợ sau phải được những người vợ trước đồng ý và của cải, tiền bạc do người chồng kiếm phải được phân phát công bằng cho tất cả những người vợ, không được thiên vị một ai.

- Nữ giới khi ra khởi nhà phải đội khăn che tóc (vì theo người Hồi giáo, tóc là thứ sexy nhất, chỉ chồng mới được chiêm ngưỡng).

Mặc dù có một số điều luật khá nghiêm khắc song trên thực tế Hồi giáo không phải là một tôn giáo hoàn toàn cực đoan, nghĩa là bắt các tín đồ của mình từ bỏ cuộc sống hiện tại, coi cuộc sống hiện tại chỉ là tạm bợ (do đó không cần phấn đấu) và chỉ đặt niềm tin vào kiếp sau vào “thế giới bên kia”.

Kinh thánh của đạo Hồi là kinh Côran, trong đó ghi lại những lời nói của Mohamad. Tuy nhiên, theo các tín đồ Hồi giáo, đó là những lời phán bảo của Đức Thánh Allah.

Hồi giáo đã từng cống hiến cho nhân loại những thành tựu to lớn về khoa học, đặc biệt trong các ngành y học, thiên văn học, hoá học, văn học...

Ngoài bốn tôn giáo chính nêu trên, ở phương Đông còn có một số tôn giáo khác như đạo Jain, đạo Sikh, v.v… Tuy nhiên những đạo này có số lượng tín đồ không nhiều. Ngoài ra cũng được gọi là “giáo”, “đạo” nhưng Nho giáo (hay đạo Nho) ngày nay không được các nhà nghiên cứu xếp vào lĩnh vực tôn giáo, vì vây một số vấn đề liên quan đến Nho giáo đã được chúng tôi “điểm qua” trong phần nói về triết học ở trên.

d. Ngôn ngữ

Trong lĩnh vực này, văn hoá phương Đông có nhiều thành tựu rất có giá trị.

Những phát kiến quan trọng nhất liên quan đến ngôn ngữ là sự ra đời của các hệ thống chữ viết.

Một trong những phát minh quan trọng nhất của người Ai Cập cách đây khoảng 5.000 năm là sự sáng tạo la chữ viết để ghi lại tiếng nói của họ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa vì chữ viết ra đời khắc phục được những hạn chế về mặt không gian và thời gian của ngôn ngữ nói, ngôn ngữ âm thanh.

Hình thức Sơ khai đầu tiên của chữ viết Ai Cập là chữ hình vẽ. Tên gọi chính thức của loại chữ này, như các nhà ngôn ngữ học thường nói đến, là chữ tượng hình, bởi nó giống như sự vật được mô tả. Những ví dụ rất phổ biến mà nhiều tài liệu thường thức đến là vòng tròn có chân ở giữa là chữ chỉ mặt trời, ba làn sóng chồng lên nhau là chữ chỉ khái niệm nước, v.v… Tuy nhiên sự vật trên thế gian thì nhiều vô kể, nếu mỗi sự vật phải cần một chữ tượng hình để mô tả thì số lượng chữ sẽ nhiều vô cùng và như vậy thì rất khó nhớ. Vì vậy, dần dần về sau, cách mô tả sự vật, hiện tượng chỉ mang tính tượng trưng và cách viết được đơn giản hoá đi nhiều. Xu hướng này làm cho chữ viết Ai Cập tiến gần tới nguyên tắc quy ước là chính. Từ đây một hệ thống kí hiệu chữ viết mang tính quy ước đã ra đời. Ngày nay, người ta đã thống kê được hệ thống kí hiệu chữ viết Ai Cập bao gồm khoảng 750 kí hiệu tượng hình và 20 kí hiệu ghi âm. Có thể nói, đây là một bước tiến vĩ đại của văn hoá Ai Cập bởi điều đó không chỉ biểu hiện trình độ phát triển của tư duy, nhận thức của con người mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, trên tường của các đền, miếu, cung điện và các kim tự tháp. Chữ còn được viết lên giấy làm bằng vỏ một loại cây có tên papurut thường mọc nhiều ở các đầm, hồ và hai bên bờ sông Nin.

Gần như cùng thời với chữ Ai Cập là sự xuất hiện của chữ viết ở Lưỡng Hà. Chủ nhân đầu tiên của kiểu chữ viết này là người Sumer - tộc người đầu tiên xuất hiện ở lưu vực sông Tigrơ và Ơphơrat. Chữ Sumer xuất hiện vào khoảng thiên niên kỉ thứ IV TCN. Sau này các tộc người khác như Akkad, Hatti, Atxiri, Ba Tư đều tiếp thu chữ viết Sumer.

Chữ Sumer, cũng như chữ Ai Cập, là chữ tượng hình. Hệ thống chữ Sumer cổ có khoảng 600 kí hiệu. Sau này người ta còn thêm một số kí hiệu ghi âm nữa. Trong quá trình phát triển, hệ thống chữ viết Sumer được đơn giản hoá đi nhiều. Từ hình vẽ gần giống sự vật, các kí tự tượng hình dần chuyển thành hình tròn, hình cong, hình bán nguyệt, rồi sang vạch thẳng. Cuối cùng để dễ ấn vào đất sét, các vạch thẳng được cải tiến thành hình nêm, hình đinh hay hình góc (hai vạch thẳng gặp nhau tạo thành một góc), vì vậy chữ Sumer nói riêng, các chữ ở khu vực Tây Á tiếp thu chữ Sumer nói chung, thường được gọi là chữ hình đinh, chữ hình nêm hay chữ hình góc. “Giấy” được người Sumer dùng để viết là đất sét mềm được cán thành những mảng mỏng, cuộn lại thành hình quả cầu, hình lăng trụ, v.v…

Cũng như chữ viết Ai Cập, chữ Lưỡng Hà (mà đại diện là chữ Sumer) là tài sản tinh thần lớn của cư dân khu vực này. Các minh chứng khảo cổ học cho biết cư dân Lưỡng Hà đã dùng chữ viết của mình để ghi lại các tri thức khoa học, các sáng tác văn học, rồi tình hình chính trị, kinh tế, v.v... Tại Ninivơ, thủ đô đế quốc Atxiri, qua khai quật khảo cổ học, người ta đã tìm thấy cả một thư viện đồ sộ, trong đó có đủ các loại văn bản bằng đất sét viết về kinh tế, hành chính, pháp luật, v.v... và thậm chí cả những tài liệu về bói toán, kinh cầu nguyện, những lời tiên tri, các đơn thuốc, v.v… Rõ ràng, nhờ chữ viết, các giá trị về lịch sử và văn hoá Lưỡng Hà đã được bảo tồn cho đến tận ngày nay.

So với chữ Ai Cập và Lưỡng Hà thì chữ viết ở Ấn Độ ra đời muộn hơn. Dựa trên những kí hiệu khắc trên các con dấu được phát hiện ở lưu vực sông Ấn, người ta phán đoán rằng chữ viết của Ấn Độ ra đời cách đây khoảng 2.000 năm. Tuy nhiên thứ chữ ấy không còn tồn tại sau đó. Đến khoảng năm 800 TCN, xuất hiện chữ Kharosthi, sau đó là chữ Brami. Cả hai loại chữ này đều bắt nguồn từ Tây Á, địa bàn của văn minh Lưỡng Hà. Chữ Kharosthi bắt nguồn từ chữ Aramaic còn chữ Branli - từ chữ Semitic. Từ hai loại chữ này, đến thế kỉ thứ VI TCN, để ghi lại ngôn ngữ ấn - Âu, người ta cải biến mẫu tự Devanagari. Từ đây chữ Sanskrit ra đời. Sau này, ở phía bắc Ấn Độ, để truyền bá đạo Phật dễ dàng, người ta đã cải biên chữ Sanskrit thành một thứ chữ đơn giản hơn: chữ Pali. Các chữ viết Thái, Lào, Chăm, Khmer ở vùng bán đảo Trung Ấn được ra đời cũng trên cơ sở của chữ Pali - Sanskrit ở Ấn Độ.

e. Văn học

Văn học phương Đông để lại nhiều thành tựu rực rỡ cho kho tàng văn học thế giới.

Sinh ra trong nền văn hoá nông nghiệp là chủ đạo, văn hoá dân gian nói chung, văn học dân gian nói riêng, có đất để phát triển. Nói chung, trong bối cảnh văn hoá như vậy, văn học dân gian phương Đông phát triển hơn văn học bác học. Có thể nói, nước nào phương Đông cũng có một kho tàng vĩ đại về thần thoại, cổ tích và thơ ca dân gian. Vì tồn tại trong hình thức truyền miệng nên thơ ca dân gian rất phát triển. Thơ ca chuyên chở cảm xúc, lại có lối diễn đạt súc tích, bằng vần luật, nhịp điệu nên rất dễ thuộc, dễ nhớ.

Nói đến văn học cổ điển phương Đông, không một nhà nghiên cứu nào không nhắc đến hai sử thi vĩ đại của Ấn Độ: Mahabharata và Ramayana.

Mahabharata (Bharata vĩ đại) là bộ sử thi lớn nhất Ấn Độ. Nói như Hêghen, bộ sử thi đồ sộ thuộc loại nhất này xứng đáng là bộ sử thi “mẫu mực nhất” của văn học thế giới. Ra đời vào khoảng thế kỉ thứ IX TCN, sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh vào thế kỉ thứ V TCN, Mahabharata bao gồm 110.000 câu thơ đôi (sloka - 2 câu 8 chữ). Đánh giá về tác phẩm này, người Ấn có câu châm ngôn rất nổi tiếng, đó là: “Cái gì không có trong Mahabharata thì cũng không tìm thấy ở đâu trên xứ sở Bharata”[8].

Mahabharata nói về cuộc chiến tranh vĩ đại giữa hai bộ lạc thuỷ tổ của người Arya, hay cũng có thể coi là giữa hai chi của dòng họ Bharata. Tương truyền tác giả của trường ca này là đạo sĩ Krishna Dwaipayana Vyasa. Tuy nhiên, trong tiếng Sanskrit, Vyasa lại có nghĩa là “người sưu tập”. Vì vậy các nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ đây là tác phẩm đã được rất nhiều thi sĩ dân gian sưu tầm và chỉnh lí.

Về tác phẩm này, có hai điều cần nhấn mạnh:

- Không chỉ nói về cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và cuộc chiến giành giật lãnh thổ, Mahabharata còn là cuộc chiến bảo vệ sự bình đẳng, bác ái, bảo vệ nếp sống đạo đức hiền hoà (tức bảo vệ Dharma).

- Người anh hùng trong sử thi Mahabharata mang một vẻ đẹp đặc biệt. Họ vừa sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh, sẵn sàng chiến đấu song lại luôn mong ước, phấn đấu cho hoà bình, cho lẽ phải và tình yêu. Hình ảnh người anh hùng lí tưởng trong sử thi Mahabharata không đơn thuần là những nhân vật thần linh mà là “những anh hùng nửa thần linh, nửa trần tục” theo cách nói của IA. V. Vasilkov[9].

Ramayana (Những chiến tích của Rama) xuất hiện vào khoảng từ thế kỉ thứ VI đến thế kỉ thứ III TCN. Trường ca này gồm 24.000 sloka. Đây là sử thi văn chương, sử thi cung đình, khác với Mahabharata là sử thi anh hùng. Tuy nhiên, cũng như Mahabharata, Ramayana từ hàng nghìn năm nay đã ăn sâu vào tâm hồn dân tộc và có ảnh hưởng lớn đến xã hội Ấn Độ về rất nhiều mặt: đạo đức, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ...

Ramayana kể về sự nghiệp và công đức của hoàng tử Rama nước Kosala - người được coi là hoá thân thứ bảy của thần Vishnu. Ở trường ca này, cũng như ở Mahabharata, cuộc chiến tranh giành đất đai, bờ cõi không phải là ý nghĩa chủ đạo. Việc Rama chiến đấu với quỷ Ravana để bảo vệ Sita - vợ mình, là thể hiện ý nghĩa diệt trừ cái ác bảo vệ cái thiện. Chiến thắng của Rama là chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Rama trở thành một siêu mẫu về đức vua lí tưởng theo quan niệm Hindu. Còn Sita là biểu tượng của người phụ nữ lí tưởng - chung thuỷ, kiên trì, nhẫn nại[10].

Thành tựu vĩ đại của văn học Trung Quốc được thể hiện ở cả hình thức lẫn nội dung, cả khối lượng lẫn chất lượng. Nền văn học Trung Quốc phong phú về nội dung, sâu sắc, thâm thuý về tư tưởng, tinh tế, sắc sảo và điêu luyện về hình thức thể hiện.

Dấu mốc về thời kì ra đời của văn học Trung Quốc có thể là sự xuất hiện của Kinh Thi. Nguồn gốc của Kinh Thi là các sáng tác dân gian: Khổng Tử là người sưu tầm, ghi chép thành văn bản viết. Hiện còn 305 bài lưu giữ được đến ngày nay. Về mặt nội dung, Kinh Thi phản ánh rất chân thực và sinh động cuộc sống của người dân lao động Trung Quốc, đặc biệt là nỗi thống khổ của họ (vì thiên tai, vì chiến tranh...). Về mặt thể hiện, Kinh Thi vừa là lời ăn tiếng nói của những người lao động dân dã lại vừa mang những đặc trưng tiêu biểu nhất của ngôn ngữ thi ca. Có thể nói, được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, Kinh Thi mãi mãi là viên ngọc óng ánh trong kho tàng văn học phương Đông và thế giới.

Trong kho tàng thơ ca cổ điển Trung Quốc, thơ Đường chiếm một vị trí đặc biệt. Có thể nói, với 50.000 bài thơ của khoảng 2.300 thi sĩ, “thơ Đường đã đem lại vinh quang cho Đất nước của thơ ca (Thi ca chi bang) và ảnh hưởng sâu rộng đến thơ ca đời sau”[11].

Những thành tựu của thơ ca Trung Quốc gắn liền với tên buổi của Khuất Nguyên (340-278 TCN), Lý Bạch (701 - 762), Đỗ Phủ (712 - 770), Bạch Cư Dị (772 - 846). Đó là những đại thi hào mà tên tuổi của họ còn sáng mãi đến tận ngày nay.

Ra đời muộn hơn thi ca, tiểu thuyết của Trung Quốc bắt đầu xuất hiện từ đời Minh Thanh. Tuy nhiên những thành tựu của thể loại này cũng không phải nhỏ. Có thể kể ra một loạt những tác phẩm lớn và nổi tiếng như Thuỷ hử (Thi Nại Am), Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Tây du kí (Ngô Thừa Ân), Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần)... trong đó Hồng lâu mộng được coi là tác phẩm có giá trị nhất trong dòng văn học hiện thực cổ điển Trung Quốc. Sau này, đến thời hiện đại, một nhân cách lớn của văn học cách mạng Trung Quốc thường được nhắc đến là Lỗ Tấn với tác phẩm AQ chính chuyện lừng danh thế giới.

Ngoài hai nền văn học lớn là Ấn Độ và Trung Quốc, các nền văn học khác ở phương Đông cũng gặt hái được những thành tựu đáng kể: văn học Ai Cập, Lưỡng Hà với các thể loại thơ ca, truyện kể, giáo huấn, anh hùng ca... văn học Arập, ngoài thơ ca, có thể kể đến tập truyện Nghìn lẻ một đêm hình thành từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XII, văn học Đông Nam Á, trong đó có văn học Việt Nam, với những sắc màu đa dạng của Văn học dân gian và của các thể loại, đặc biệt là thơ ca...

f) Nghệ thuật

Về nghệ thuật kiến trúc, công trình thuộc loại cổ xưa nhất song có giá trị vĩnh hằng, đó là các Kim tự tháp của Ai Cập - kì quan số một của thế giới cổ đại. Đây là những lăng mộ khổng lồ, nhìn như một khối đá hình tháp có đáy vuông, bốn mặt phẳng của tháp là hình tam giác cân quay về đúng bốn hướng Nam - Bắc - Tây - Đông. Có thể nói, nghệ thuật xây dựng Kim tự tháp là nghệ thuật dùng đá. Người ta đã dùng đến 2.300.000 tảng đá, mỗi tảng vài ba tấn, có tảng đến 55 tấn để xây tháp. Nghệ thuật dùng đá ở đây là nghệ thuật đẻo đá, mài đá và xếp đá. Tất cả các tảng đá đều được đẻo, mài thành một kích cỡ nhất định rồi xếp lên thành tháp mà không dùng đến bất kì chất kết dính nào. Các Kim tự tháp đã được xây dựng như thế và đã tồn tại tới bốn, năm ngàn năm. Quả là một thách thức với thời gian Không phải ngẫu nhiên mà người Ai Cập rất hãnh diện với câu nói: “Bất cứ cái gì cũng đều sợ thời gian, nhưng thời gian thì lại sợ Kim tự tháp”[12].

Ngoài Kim tự tháp, người Ai Cập còn là chủ nhân của nhiều đền đài nguy nga, tráng lệ mà tiêu biểu là đền Tebơ thờ thần Mặt trời Amôn với gian chính rộng tới 5.000 m2, 134 cột đá xếp thành 16 hàng, có cột đá cao tới 21 mét.

Công trình kiến trúc tiêu biểu của Lưỡng Hà cổ đại là thành phố Babilon được xây dựng vào khoảng 600 năm TCN. Và đặc biệt, một trong bảy kì quan của thế giới cổ đại là công trình kiến trúc vườn treo Babilon. Đây là một “vườn hoa không trung” trong cung điện mà “từ xa, vườn treo trông giống như một quả đồi xanh tươi đầy hoa”[13].

Nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ gắn liền với Hinđu giáo và Phật giáo. Các công trình sớm nhất được xây dựng vào khoảng thế kỉ thứ III - thứ II TCN, ví dụ chùa Stupa Sanchi hay chùa hang ở miền Trung - Tây Ấn Độ. Đặc biệt, từ Vương triều Gupta (khoảng 319 - 467) hàng loạt chùa theo phong cách điêu khắc Gupta của Hindu giáo đã được xây dựng. Đặc trưng phong cách gupta từ đây về sau trở thành những nét cổ điển của nghệ thuật Ấn Độ. Đặc điểm nổi bật của phong cách điêu khắc này là ở vẻ đẹp sinh động và nét hiện thực giới tính của các hình tượng.

Nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của Arập là kiến trúc cung điện và thánh đường Hồi giáo. Ra khỏi thế giới Arập, sau này những công trình kiến trúc Hồi giáo mọc lên ở khắp nơi: Jerusalem, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Brunei, v.v… Tất cả đều trở thành những kiến trúc tuyệt tác, những công trình nghệ thuật đặc sắc của văn hoá nhân loại. Trong số những công trình kiến trúc Hồi giáo hiện đang tồn tại thì đẹp nhất, được xây dựng một cách công phu nhất là những thánh đường Hồi giáo, ở đó nổi bật hơn cả là lễ đường (mosque) và các tháp (minarets) hình củ hành hoặc nhọn.

Ngoài ra còn có thể kể đến hàng loạt những công trình kiến trúc nổi tiếng của phương Đông mà ngày nay các khách du lịch bốn phương thường tìm đến như Borobudur ở Indonesia, chùa vàng chùa bạc ở Myanmar, Ăngco Voat ở Cămpuchia, các chùa chiền, cung điện ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Kyoto (Nhật Bản), Seol (Hàn Quốc), v.v... Tất cả đều là những kiến trúc, những công trình văn hoá vật chất đặc sắc của phương Đông đóng góp cho kho tàng văn hoá thế giới.

2. Những hạn chế

Văn hoá phương Đông, như vừa trình bày ở trên, có nhiều thành tựu vĩ đại. Tuy nhiên văn hoá phương Đông không phải không có những hạn chế nhất định.

Các hạn chế của văn hoá phương Đông, suy cho cùng, chủ yếu do đời sống nông nghiệp chi phối.

2.1. Văn hoá gốc nông nghiệp mang tính làng xã của phương Đông đã tạo ra những hạn chế trong tính cách con người. Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp với tính tự trị làng xã buộc mỗi cá nhân, mỗi gia đình phải tự làm ăn, tự lo liệu cuộc sống của mình. Do khoa học kĩ thuật chưa phát triển, sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên nên người dân thường chỉ đủ ăn, đủ mặc. Đó là cơ sở tạo ra tính tư hữu, tính ích kỉ, chỉ biết bo bo giữ về mình: “Ai có thân người ấy lo; Ai có bò người ấy giữ” và gắn với nó là tâm lí sợ người khác hơn mình. Họ dễ bì tị, đố kị với những người giàu có, với những người có cuộc sống dư dả hơn mình. Hơn nữa tính cộng động làng xã lại có mặt trái là dễ tạo ra thứ chủ nghĩa tập thể bình quân, lối sống ỷ lại, dựa dẫm, cam phận trong cái tôi nhỏ bé của mình, làm cản trở tính sáng tạo của mỗi cá nhân. Chính vì lối sống ấy mà ý thức cá nhân trong mỗi con người không phát huy mạnh mẽ để trở thành ý thức sáng tạo. Người ta không nghĩ hay không dám hướng đến một cung cách làm ăn khác hơn để cải tiến cuộc sống đơn sơ, thiếu thốn của mình và cam chịu, chấp nhận nó như một điều tất yếu. Họ bằng lòng với cuộc sống theo cách thức sản xuất mà ông cha để lại, không dám đi xa, mạo hiểm vì cả đời chỉ quen vời làng xã và mảnh ruộng cỏn con của mình. Thêm nữa lối sống nông nghiệp còn tạo ra cho người nông dân tính cách lề mề, tuỳ tiện và sự yếu kém về tính tổ chức. Nền sản xuất nông nghiệp vốn ít có những đòi hỏi khắt khe về thời gian, người ta không phải lo cạnh tranh gay gắt, không bị ai thúc ép. Vì thế nên khi bước vào xã hội hiện đại với yêu cầu phát triển công nghiệp thì tính cách tuỳ tiện, thiếu kỉ luật, thiếu tính tổ chức mới bộc lộ tất cả những yếu kém của nó. Đó là mặt hạn chế cơ bản của con người nông nghiệp phương Đông trong sự so sánh với con người phương Tây vốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác và làm việc hết mình.

Tư tưởng cục bộ địa phương cũng là một hạn chế của con người nông nghiệp quen sống trong cộng đồng làng xã mình mà ít mở rộng hiểu biết, giao tiếp ở phạm vi rộng hơn, xa hơn. Tâm lí “người cùng làng” trong phạm vi cộng đồng có thể dễ đố kị nhau nhưng khi ra ngoài làng thì họ lại bênh vực cho những người cùng làng xã mình, hay có thể từ một việc va chạm nhỏ nhưng nếu động đến làng thì cả làng sẵn sàng kéo nhau ra bảo vệ làng mình một cách cực đoan bất kể tốt, xấu, phải, trái.

2.2 Như đã phân tích ở trên, xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn cô lập, tách biệt, cộng với những xiềng xích nô lệ của các quy tắc hà khắc cổ truyền “đã làm hạn chế lí trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp và trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín. Những công xã này chủ yếu làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy”[14]. Xã hội phương Đông, vì vậy, mang tính chất thụ động, quân bình, ít thay đổi. Không phải ngẫu nhiên mà C. Mác đã dùng những từ như “bất động”, “tĩnh” để chỉ xã hội phương Đông. Tình trạng tĩnh tại, trì trệ của xã hội phương Đông kéo dài đến tận mười năng đầu của thế kỉ XIX. Và đó chính là cơ sở để chế độ chuyên chế phương Đông tồn tại quá dai dẳng, làm cản trở sự phát triển của xã hội.

Lối tư duy thiên về trực giác của phương Đông, ít óc duy lí, phân tích, mổ xẻ cũng phần nào làm cho khoa học kĩ thuật không phát triển mạnh được như phương Tây. Những phát kiến về khoa học - kĩ thuật của phương Đông trước đây chủ yếu gắn với sản xuất, nảy sinh từ sản xuất (từ sản xuất nông nghiệp > lịch ra đời, thiên văn phát triển, v.v.). Trên một ý nghĩa nào đấy, đó cũng là một hạn chế của văn hoá phương Đông.

Bên trên chúng ta đã điểm qua về một số đặc điểm của văn hoá phương Đông xét từ  góc độ triết học, đó là văn hoá phương Đông nghiêng về cân bằng, ổn định, hài hoà, đạo đức, tinh thần, tình cảm, ngả về tĩnh, trong khi văn hoá phương Tây lại thiên về đấu tranh, phát triển, phủ định, lí trí, lí tính, vật chất, ngả về động. Phải chăng đó là một trong những nguyên nhân làm cho phương Tây phát triển nhanh về khoa học kĩ thuật, chinh phục giới tự nhiên, trong khi đó phương Đông vẫn ngủ im lìm với bầu trời mây mù mang tính chất tôn giáo kéo dài suốt mấy thế kỉ? “Vật cùng tắc biến”, phương Đông đã, đang trỗi dậy và sẽ có những triển vọng to lớn[15].

2.3 Phương Đông đã có những tấm gương sáng về sự phát triển vượt trội: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore... Trong số những bài học có thể rút ra được từ các quốc gia nói trên có bài học về giữ gìn bản sắc ưu việt của văn hoá truyền thống, loại bỏ những yếu tố văn hoá lạc hậu, lỗi thời, hạn chế do nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu gắn liền với công xã nông thôn quy định và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, tiên tiến của phương Tây. Nói cách khác, đồng thời với việc bảo tồn và phát huy những thành quả, những yếu tố tích cực của văn hoá truyền thống, cần phải xây dựng một nền văn hoá - văn minh công nghiệp (và hậu công nghiệp) tiên tiến cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn khu vực.

 



[1] Chi tiết về những thành tựu này, về tài liệu bằng tiếng Việt, có thể tham khảo một số tài liệu của Lương Ninh (chủ biên), 1998; Lương Duy Thứ (chủ biên), 1996; Vũ Dương Ninh (chủ biên), 1997. Ở đây chúng tôi dẫn một số thông tin theo Lương Ninh (chủ biên)

[2] C. Mác - Ăng ghen, Tuyển tập. Tập 4, NXB Sự thật, tr.220

[3] Vũ Quang Hà - Trần Thị Mai Hoa, Lịch sử triết học Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại. NXB ĐHQGHN, 2000, tr.38

[4] Chi tiết về hai trường phái này xin xem công trình của Nguyễn Hùng Hậu. Một số nhận xét ở phần này chúng tôi dựa vào công trình trên [nguyễn Hùng Hậu, Sđd, các trang 17 -28, 123 - 138]

[5] Nguyễn Hùng Hậu, Sđd, các trang 123 - 138

[6] Lương Duy Thứ (chủ biên), Đại cương văn hóa phương Đông. NXBGD, 1996, tr.150

[7] Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử văn hoá thế giới cổ, trung đại. NXBGD, 1998, tr.213

[8] Bharata là vua thuỷ tổ, đồng thời là tên dòng họ đầu tiên của người Ấn, sau đó trở thành tên của đất nước Ấn Độ. Ngày nay Bharata vẫn là quốc hiệu của Cộng hoà Ấn Độ [Lương Duy Thứ (chủ biên), Đại cương văn hóa phương Đông, 1996, tr.184]

[9] Câu này dẫn lại qua Lương Duy Thứ (chủ biên), Sđd, 1996, tr.188

[10] Lương Duy Thứ (chủ biên), Sđd, tr.194 - 195

[11] Lương Duy Thứ (chủ biên), Sđd, tr.49

[12] Lương Ninh (chủ biên), Sđd, tr.26

[13] Lương Ninh (chủ biên), Sđd, tr.29

[14] Nguyễn Hùng Hậu, Sđd, tr.6

[15] Nguyễn Hùng Hậu, Sđđ, tr.164

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Lịch sử & Văn hoá Thế giới   Văn hóa Phương Đông   Tổng quan về văn hóa Phương Đông
Những đặc điểm chủ yếu của văn hóa truyền thống Phương Đông
Sự ảnh hưởng của các nền văn hoá phương Đông ra khu vực và thế giới
Các thành tựu và những mặt hạn chế của văn hoá truyền thống phương Đông
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Lịch sử Thế giới Vạn năm
Thế giới 5.000 năm
Văn hóa Phương Đông
Văn minh Phương Tây
Nền văn minh Châu Phi
Những sự kiện nổi tiếng thế giới
Lịch sử Mỹ thuật Viễn đông
Lịch sử hội họa
Các nền Văn hoá Thế giới (A-Z)
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google