Trang chủBKTT Thiếu nhiBKTT Phổ thôngBKTT Nâng caoBKTT Tổng hợpVăn minh thế giớiKhám phá & Phát minhCác nướcĐại từ điểnMultimediaHướng dẫn  
 
 
Tiêu điểm
Có sự sống ngoài trái đất hay...
Lý thuyết mới về cấu tạo của...
Quá trình tiến hóa của các ngôi sao
Những tia lazer vô tuyến thiên...
Những người được giải thưởng...
Thiên hà phát sóng vô tuyến
Mô hình vũ trụ và "chất đen"
Nguồn gốc loài người
Ứng dụng của laser - một thành...
Lịch sử hình thành trái đất
Thư viện ảnh
Rất hấp dẫn & phong phú
Hấp dẫn
Bình thường
Ít thông tin, kém hấp dẫn
 
  
Bạn chưa đăng nhập!
 Danh nhân Thế giới   Khoa học tư nhiên


NICOLAU S COPE RNICUS

Nicolaus Copernicus (l473 - 1543)

Những bước đi của khoa học ở thế kỉ 15 – 16 đã khám phá ra cả một chân trời mới mẻ. Người ta bắt đầu lật lại những vốn đề tưởng như là chân lý trong quá khứ. Nicolaus Copernicus đã trở thành nhà thiên văn học vĩ đại bởi đã biết lật lại những vấn đề về vũ trụ đã từng được xác định từ trước đó. Khám phá của  ông là nền tảng cho mọi hoạt động của ngành thiên văn học hiện đại.

Nicolaus Copernicus sinh ra trong một gia đình bình thường tại thành phố Torun bên bờ sông Vistula, Ba Lan. Người dân Ba Lan chắc cũng không ngờ  rằng, ngày 19 tháng 2 năm 1473 lại là một ngày đáng ghi nhớ đối với đất nước họ. Ngày hôm ấy, một thiên tài về lĩnh vực thiên văn học đã chào đời để khám phá vũ trụ và làm thay đổi quan niệm trên toàn thế giới.

Nicolaus Copernicus là một người sớm bộc lộ trí thông minh và khả năng tiếp nhận tri thức. Dù người cha thường bận rộn đi buôn bán ở bên ngoài, không mấy khi chú ý đến việc học tập của các con nhưng Copernicus vẫn luôn là một học sinh xuất sắc trong trường học. Copernicus thường cùng với hai người chị theo đuổi những công việc lý thú của mình mà không hề cảm thấy cô độc. Đối với việc học hành, ông luôn tỏ ra hứng thú, môn nào học cũng rất giỏi. Cho dù môn tiếng La tinh là một môn học rất khó khăn đối với hầu hết các bạn bè cùng trang lứa nhưng đối với Copernicus, đó cũng chỉ là một môn học bình thường, ông luôn đạt được thành tích tốt. Copernieus thích thú nhất với trò chơi ngắm sao hằng đêm. Ông thường quỳ gối lên một chiếc ghế tựa đặt sát cửa sổ, ngửa mặt lên nhận bầu trời đầy sao sáng và ước mơ được làm bạn với tất cả những ngôi sao kỳ diệu đó. Nhưng thời thơ ấu vui vẻ của Copernicus không kéo dài bao lâu. Năm 10 tuổi, cha ông bị bệnh dịch cướp đi tính mạng. Copernicus suy nghĩ mãi mà không thể hiểu được: Trên trời có những vì sao số mệnh thật  chăng? Người cha của ông luôn sùng kính thần thánh và ngoan đạo thế sao sự  trừng phạt lại giáng xuống đầu cha ông? Hạt giống hoài nghi đó đã gieo vào tâm hồn thơ ngây của Copernicus.

Nicolaus Copermcus có một nền học vấn hết sức phong phú trên nhiều lĩnh vực: y học, luật học, kinh tế học... Nhờ sự dạy dỗ của Tổng giám mục Lucas Waczenrot thuộc giáo khu Ermeland - người vừa là cậu ruột, vừa là người  giám hộ của Copernicus và là người có kiến thức cực kỳ uyên bác, ông đã được học hỏi rất nhiều lĩnh vực khác nhau: văn học nghệ thuật cũng như khoa học. Từ  năm 1491 đến năm 1495, Tổng giám mục Lucas Waczenrot sắp xếp cho Copenicus học tại trường đại học Cơracôvi thuộc thủ đô Ba Lan. Đây là ngôi trường có lịch sử lâu đời với nhiều giáo sư giỏi nổi tiếng khắp Châu Âu về các  môn thiên văn học, số học. Copernicus được nhà thiên văn học nổi tiếng nhất Ba Lan thời ấy để ý và nâng đỡ. Trong thời kỳ này, ông cũng bắt đầu nghiên cứu  học thuyết của Ptolemy và ngày càng cảm thấy học thuyết này có nhiều chỗ giải  thích rất gượng ép, thiếu chính xác so với tư liệu quan trắc trong thực tế. Từ đó, Copernicus âm thầm suy tư và tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất của kết cấu vũ   trụ trong thiên văn học trên một góc độ hoàn toàn mới. Thuyết ''Mặt trời là  trung tâm'' đã bắt đầu được thai nghén như vậy.

Năm 1496, Copernicus buộc phải tạm gác việc học tập và nghiên cứu tại trường Cơracôvi để khoác chiếc áo giáo sĩ lên đường tới nước Ý. Do lúc bấy  giờ, cuộc tranh chấp giữa Lucas Waczenrod với Hiệp sĩ đoàn chữ thập trở nên gay gắt nên nước Ba Lan cần phải có người tinh thông Luật Giáo hội đến La Mã để đập tan âm mưu muốn độc chiếm cửa ra biển, cắt đứt con đường giao thông quan trọng của Ba Lan. Copernicus lên đường một cách tự nguyện vì với ông:  “Không có một trách nhiệm nào thiêng liêng hơn trách nhiệm đối với tổ quốc.  Vì tổ quốc, cho dù phải hy sinh tính mạng cũng là xứng đáng.” Hai mươi năm  sau đó, Copernicus đã viết những lời như vậy trong nhật ký của mình.

Đến nước Ý, Copernicus lại tiếp tục sự nghiệp học hành tại trường đại học Bologne. Tại đây, ông đã kết thân với một nhà thiên văn học nổi tiếng và cùng người này tiến hành các quan sát về mặt trăng. Họ phát hiện ra sự giải thích về quy luật vận hành đối với mặt trăng của Ptolemy là hết sức hoang đường, Ptolemy cho rằng mặt trăng lục khuyết và lúc tròn có khoảng cách gần hơn 1/2  so với trái đất. Trong sinh hoạt thực tế, mọi người vẫn thường thấy được:  khoảng cách giữa con người và vật thể càng xa thì vật thể trong thị giác sẽ có thể  tích càng nhỏ. Trái lại, khoảng cách giữa con người và vật thể càng nhỏ thì thể tích của vật thể trong thị giác sẽ càng to. Vậy tại sao nửa mặt trăng lại lớn hơn cả mặt trăng được? Hay là mặt trăng đã xảy ra sự phình to, thu nhỏ? Nhà thiên văn học người Đức trong trước tác nhan đề Bình luận về thiên văn đã đề xuất  một sự hoài nghi, còn riêng Copernicus và người bạn của mình qua sự quan trắc  thực tế đã chứng minh sự hoài nghi đó. Ngày 9 tháng 3 năm 1947, khi chân trời chỉ còn sót lại một chút ráng chiều thì Copernicus và người bạn của ông đã leo lên tháp chuông nhà thờ Saint John để quan sát. Họ nhìn thấy một vành trăng  non từ từ xuất hiện. Lúc bấy giờ, vì sao Aldebaran trong chòm sao Thiên Ngưu sáng lấp lánh từ từ di chuyển gần mặt trăng. Bỗng nhiên sao Aldebaran chớp qua một lượt rồi biến mất. Hai người liền điều chỉnh dụng cụ để theo dõi và thấy được sao Aldebaran bị lẩn khuất ở phía sau bóng tối của vành trăng non. Hai người tính toán suốt một đêm tìm ra được một con số chứng minh: khoảng cách  giữa mặt trăng và trái đất khi mặt trăng khuyết cũng như khi mặt trăng tròn đều  hoàn toàn giống nhau; mặt trăng cũng không hề lớn hơn hay nhỏ hơn. Như vậy, lý luận hơn một nghìn năm qua về vấn đề này đã được khám phá.

Nicolaus Copernicus cũng từng học qua các trường đại học Padoue và Pherarê ở Italia. Năm 30 tuổi, Nicolaus Copernicus được trao bằng tiến sĩ luật học tại trường Pherarê. Năm 1500, do quá túng bấn nên Copemicus phải đến Rome tìm cách mưu sinh. Ông làm giáo sư dạy số học tại Ái tri học xã. Khi đứng trên giảng đường của trường đại học Rome để giới thiệu hệ thống thiên  văn học của Ptolemy, ông tỏ rõ sự bất mãn đối với hệ thống thiên văn này. Lúc bấy giờ, ông đã được đọc nhiều sách vở hơn, đặc biệt ông đã đọc qua nhận xét của người triết gia Hy Lạp cổ đại là Pythagores về “địa cầu chỉ là một trong những vì sao xoay xung quanh mặt trời”. Mặc dù có người khuyên ông nên nói  lên quan điểm đó tại cuộc họp về học thuật nhưng Copernicus rất khôn ngoan,  ông chỉ kể lại một cách rõ ràng những tình tiết cụ thể khi ông quan sát vì sao Aldebaran. Copernicus muốn dành thời gian suy nghĩ chín chắn hơn và thu thập  những luận cứ một cách đầy đủ.

Trong những ngày tháng sống tại Rome, Copernicus đã tận mắt trông thấy sự giả dối và hủ bại của giáo hội. Có một dạo ông cần về Tổ quốc nhưng tất cả những gì diễn ra ở quê hương khiến ông đau buồn. Người mẹ cao tuổi của ông  rời bỏ nhân thế trong một hoàn cảnh cô độc, Người thầy yêu quý của ông cũng bị giáo hội dồn ép và đã chết ở tận Lithuanian xa xôi. Thế là ông trở lại nước ý  và tại đây ông đã được nhận chức vụ giáo sư đại học tại đại học Rome. Tuy  nhiên, một lần nữa, Copernicus lại muốn được phụng sự cho tổ quốc. Ông đã trả  chức giáo sư tại đại học Rome để trở về đất nước của mình vào năm 1506.

Sau khi quay trở về Ba Lan, Copernieus tham gia tích cực các hoạt động xã hội. Sáu năm đầu tiên, ông luôn sống bên cạnh người cậu, để giúp Tổng giám mục Lucas Waczenrot đấu tranh với Hiệp sĩ đoàn chữ thập. Phần lớn thời gian, ông hoạt động ở nhà thờ chính tại Frauenburg với vai trò là một giáo sĩ. Ông chưa bao giờ là một nhà thiên văn học chuyên nghiệp. Thời gian rảnh rỗi là lúc Copenieus dành cho việc nghiên cứu khoa học - công việc mà ông hết sức thích  thú. Ông đã đem những vấn đề mà mình suy nghĩ viết thành một đề cương toát  yếu, có tên là: Thử bàn về giả thiết thiên thể vận hành. Vận hành có nghĩa là:  vạn vật trên thế giới không bao giờ đứng yên, chim bay trên trời, thú vật chạy dưới đất, cá lội dưới biển. Tất cả mọi vật đều không bao giờ đứng yên mà luôn vận động, luôn thay đổi theo nghĩa riêng của nó. Từ khi sinh tới khi chết, từ phát sinh, phát triển và tiêu diệt, thế hệ này qua thế hệ khác đều tiếp tục như vậy. Sự vận động và thay đổi đó là sức sống của sự vật. Đề cương này của Copernicus chi lưu truyền trong một phạm vi hẹp và khá có ảnh hưởng.

Dù rất cố gắng làm việc để cống hiến cho đất nước, tuy nhiên, đất nước ông đã khiến ông thất vọng vì sự ngu muội, bần cùng và phiến loạn. Thời bấy giờ, trong thiên nhiên xuất hiện một hiện tượng Thổ tinh và Mộc tinh gặp nhau. Giáo hội nhân cơ hội đó đã bịa đặt nhiều chuyện để dối gạt người dân, khiến ai nấy đều nơm nớp lo sợ ngày tận thế sắp đến. Copernicus bèn liên kết với một số bạn bè để tiến hành quan trắc hai vì sao nói trên trong cùng một thời gian nhưng  khác địa điểm. Kết quả đã chứng minh: thời gian gặp nhau giữa hai vì sao hoàn  toàn khác với những điều mà Giáo hội đã nói, qua đó vạch trần âm mưu của họ.

Nicolaus Copernicus đã từng là một thầy thuốc nổi tiếng và là một nhà kinh tế học xuất sắc. Năm 1526, ông đã xuất bản một tác phẩm kinh tế học trong đó có một phát minh quan trọng về quy luật tiền tệ. Quy luật này phải đến mấy trăm năm sau nhà kinh tế học người Anh Thômát Gơretsam mới tìm ra. Tuy  nhiên, lưu vực mà Copernicus khiến cả thế giới phải nhớ đến ông lại là thiên văn  học.

Nicolaus Copernicus đã sớm có hứng thú đối với môn thiên văn học, khi  ông còn ngồi trên ghế nhà trường. Lúc bấy giờ, lí thuyết quan trọng nhất và cũng  được coi là xác thực nhất là Lí thuyết Aristotle - Ptolémée do nhà bác học cổ Hy Lạp Aristotle đề xướng vào đầu thế kỉ thứ 4 tCn. và được bổ sung vào thế kỉ thứ 3 sCn bởi nhà bác học cổ Ai Cập Ptolémée. Lí thuyết này cho rằng quả đất là trung tâm của vũ trụ nên còn được gọi là thuyết Địa tâm. Trong nhiều thế kỉ trước thời Copenicus, người ta không bao giờ có ý nghĩ xem xét lại những gì đã  được coi là kinh điển và chính thống. Song thế kỉ 15 - 16 đã chứng kiến quá  nhiều điều sửng sốt với những khám phá của Christopher Columbus, Ferdinand  Magellan ... những điều mà từ trước đến nay chưa từng thấy Kinh Thánh nói tới. Như vậy, những người viết Kinh Thánh viết theo lời Chúa phán hoàn toàn có thể sai lầm và những đỉnh cao khoa học trong lịch sử loài người trước đó cũng có thể sai lầm. Copenicus cũng đã dám làm một việc mà ông biết là Giáo hội sẽ  trừng phạt, đó là phản bác lại những gì Kinh Thánh và các nhà khoa học trước  ông đã viết.

Khi còn ở Italia, Copenicus đã bị thuyết phục trước thuyết Nhật tâm của triết gia người Hy Lạp Aristarchus of Samos (thế kỉ 3 tCn.). Từ đó, ông rất để  tâm quan sát và nghiên cứu sự chuyển động của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác. Năm 1507, Nicolaus Copernicus bắt đầu công bố những phát hiện đầu tiên của mình bằng việc xuất bản một bản luận văn ngắn mang tên Bình luận của N.Copenicus về các giả thuyết liên quan đến chuyển động của các thiên thể.  Trong luận văn này, ông đã đề xướng giả thuyết táo bạo về việc trái đất quay  quanh mặt trời. Nhưng việc đưa chân lý khoa học mà ông khám phá ra xã hội  một cách rộng rãi thật chẳng dễ dàng gì với ông bởi ông là một người làm việc  cho Giáo hội. Thời đó, học vấn chỉ dành để ưu tiên cho những người chuẩn bị nhận các chức vị trong Giáo hội. Họ học để hành lễ theo sách Kinh và Kinh Thánh là tất cả đối với họ. Copenicus là một ủy viên của hội đồng Giáo hội, làm sao ông có thể dám ngang nhiên công bố kết quả nghiên cứu của mình - một kết  quả chống lại Kinh thánh?

Một mâu thuẫn mà một nhà khoa học thời Copenicus thường gặp phải là sự can thiệp của nhà thờ và những chân lý khoa học ngoài Kinh thánh. Những  người muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học không còn cách nào nhanh chóng và thuận lợi hơn là trở thành người của Giáo hội. Nhưng một khi đã là người của Giáo hội thì họ không bao giờ được tiếp cận với những tri thức trái với những điều đã dạy trong Kinh thánh. Nicolaus Copernicus cũng đã gặp  phải khó khăn tương tự. Ông chỉ là con một người làm bánh mỳ bình thường nên  cách duy nhất để chuyên đề khoa học là làm nghề tu hành. Chú của ông, một  người theo Đạo Gia tô đã nuôi dạy và tạo điều kiện cho ông sang Italia học tập.  Bản chất thông minh và sự nhanh nhạy đã khiến Copenicus sớm nhận ra những gì mà Kinh thánh dạy về sự hình thành thế giới là hoàn toàn sai lầm. Ông không bị chiếc áo tu hành bó chặt suy nghĩ, trái lại ông hoàn toàn tự chủ trong việc nghiên cứu khoa học. Một giai thoại kể rằng, khi Copenicus còn theo học ở trường dòng Vlôxláp, ông đã thắc mắc rằng: Tại sao các thiên thể lại vận hành  một cách rắc rối như vậy. Thầy giáo ở trường dòng không biết trả lời thế nào cho phải bèn đáp: Vì ý Chúa muốn thế! Ta không nên hỏi tại sao mà chỉ nên nhận biết. Tất nhiên, Copenicus không hài lòng với câu trả lời đó và đã tự tìm  hiểu lấy.

Copernicus đã theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học một cách âm thầm, lặng lẽ. Ông đã bỏ tiền ra mua một lầu quan sát bỏ hoang nhằm sát bờ  biển Zalew, thuộc vùng Đông Bắc Ba Lan. Nơi đây vào mùa đông chỉ toàn băng tuyết vô cùng lạnh lẽo, nhưng Copernicus chấp nhận điều kiện khắc nghiệt ấy để có được một địa điểm làm việc nghiên cứu độc lập. Ông dùng tầng cao nhất để bố trí phòng làm việc. Do ba bề đều là núi cao nên nóc tháp hình ba góc gần như  nhô ra khỏi tường. Hằng đêm ngồi ở đây, ông có thể quan sát một cách rõ ràng  hiện tượng thiên nhiên trên bầu trời. Copernicus đã giành một phần lớn thời giờ  để trực tiếp mang những dụng cụ lên nóc bằng của lầu quan sát cho tiện làm việc. Sự nghiệp khoa học là một sự nghiệp buồn tẻ đối với những người không ở trong cuộc. Như cuộc sống của Copernicus, ông tiến hành quan trắc thiên văn tại  một nơi hẻo lánh, không đủ cả những dụng cụ nghiên cứu cần thiết. Chính Copernicus phải đốn dọn cây xung quanh, rồi dùng mực vẽ thành tuyến, phân  chia từng độ, để tạo thành dụng cụ đo lường khoảng cách giữa các vì sao. Nước trong chứa đựng ở những ống pha lê được xem là dụng cụ để đo mực nước. Sáu khúc gỗ xếp thành hình tròn đã trở thành dụng cụ đo chiều cao của mặt trời lúc giữa trưa. Những dụng cụ đơn giản như thế đã cùng Copernicus làm việc quên ngủ từ đêm này qua đêm khác. Sự quan trắc của ông được ghi chép như sau: vị  trí của hỏa tinh năm 1512 và năm 1518; vị trí của Mộc tinh và Thổ tinh năm 1520; sự gặp gỡ nhau giữa Kim tinh và mặt trăng vào năm 1525. . .

Trong suốt 18 năm ròng (1515 - 1533), Nicolaus Copernicus đã công phu biên soạn tác phẩm nổi tiếng nhất của ông mang tên Về sự chuyển động của các  thiên thể hình cầu trên bầu trời gồm 8 cuốn. Nhưng ông không dám công bố ngay tác phẩm của mình vì sợ bị Giáo hội trừng phạt. Để có được tác phẩm ấy, Copenicus đã phải làm việc cật lực trong các khoảng thời gian rỗi của ông. Thời ấy, ông không có kính viễn vọng lớn để dễ dàng quan sát thiên thể, cũng không có những thiết bị hiện đại khác trợ giúp đắc lực cho việc nghiên cứu. Nicolaus  Copernieus chỉ dùng mắt thường để quan sát bầu trời. Suốt hàng chục năm liền,  mỗi đêm trời quang dù nóng bức hay rét mướt, Copernicus đều leo lên ngọn tháp của bức tường thành bao bọc nhà thờ thành phố Phơrômboóc. Ông tiến hành không biết bao nhiêu lần quan sát các vì sao và các hành tinh. Để có được  sự chính xác khi quan sát, ông phải học cách xác định vị trí và khoảng cách giữa các ngôi sao trên bầu trời bằng cách vẽ một mạng lưới đường trên bản đồ bầu trời như mạng lưới đường trên bản đồ địa lý. Nicolaus Copernicus đã lật lại toàn bộ lí thuyết của Aristotle và Ptolémée bằng sự quan sát tỉ mỉ của mình. Ông chỉ đồng ý rằng: mặt trăng xoay xung quanh trái đất. Nhưng sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa và các hành tinh khác không quay quanh trái đất mà quay quanh mặt trời.  Kể cả trái đất cũng quay quanh mặt trời. Do đó, theo Copernicus, không thể coi  các phần khác của vũ trụ là để phục vụ trái đất.

Trong khi làm việc tại văn phòng đặt trên lầu quan sát của thành phố Fruenburg, Copernicus bắt đầu viết tác phẩm để đời của ông. Trong giai đoạn đầu, công việc tiến triển rất chậm. Trước hết ông gặp khó khăn trong việc nghiên cứu về cách tính giờ thời cổ. Do thời gian quá lâu, nhất là do tam sao thất bản, nên danh xưng mười hai tháng của lịch pháp Ai Cập thời cổ đại không thể đọc được. Trong vòng mười năm kể từ khi còn ở đại học Bologne cho đến khi mở phòng làm việc tại Frauenhurg, Copernicus đã đọc rất nhiều sách cổ và đã tiến hành tìm hiểu nhiều mặt, hy vọng với số tài liệu hiếm hoi đó, ông sẽ tìm ra chiếc chìa khóa để mở cánh cửa bí mật về cách tính thời giờ. Một hôm, ông tiện đường bước vào một thư viện và ngẫu nhiên trông thấy một vị cha cố đang đọc một quyển sách không biết tên của học giả Hy Lạp thời cổ là Plutarch. ông phát hiện được trong đó có ghi chép cách đọc rõ ràng tên mười hai tháng lịch cổ Ai Cập. Ông vui mừng và thức suốt mấy đêm liền để đối chiếu, tìm hiểu và cuối  cùng đã vượt qua được vấn đề khó khăn nói trên.

Năm 1519, Copernicus còn chưa vơi nỗi đau do người anh qua đời thì chiến tranh lại ập tới. Đại quân của Hiệp sĩ đoàn chữ thập kéo đến bao vây thành. Những tín đồ hèn nhát trong giáo khu người thì bỏ chạy, người thì đầu hàng. Copernicus đành phải gác công việc nghiên cứu, viết lách của mình sang một bên để cùng với quân dân trong giáo khu lo bảo vệ thành trì. Sang năm thứ hai, chiến sự lạ leo thang. Copernicus lúc này đang giữ chức Tổng quản của giáo  khu. Ông đã phải lên đầu thành để chỉ huy quân dân dùng những tấm da thuộc  ngâm ướt ra sức dập tắt những đạn lửa do quân thù bắn lên. Đối phương tấn  công kéo dài mà không thể hạ được thành nên rất tức giận. Thủ lĩnh của Hiệp sĩ đoàn chữ thập là John Albert, biết được người chủ trì việc bảo vệ thành là một  nhà thiên văn, bèn ra lệnh cho binh sĩ nổ đại bác tấn công vào lầu quan sát, nơi Copernicus đang tiến hành các công tác nghiên cứu. Vì hành động trả thù đáng sợ này, tất cả mọi sách vở, tài liệu bản thảo và những dụng cụ quan trắc thiên  văn của Copernicus đều bị thiêu cháy hết. Nhưng điều đó không làm Copernicus  nản lòng. Sau khi thành trì được bảo vệ an toàn, ông lại quay trở về với công  việc nghiên cứu một cách miệt mài hơn.

Từ năm 1519 đến năm 1521, đoàn thám hiểm của nhà hàng hải người Italia Magellan đã hoàn thành việc đi vòng quanh trái đất, chứng minh một cách  hùng hồn rằng trái đất tròn. Cùng lúc đó, Copernicus cũng bắt đầu đưa ra những  kết luận về việc quan sát của mình tại bờ biển Zalew. Đến năm 1523, Copernicus bước vào giai đoạn dốc toàn lực để hoàn thành trước tác. Ngay lúc đó thì bên cạnh ông xuất hiện một người con gái khuê các danh môn là cô Anna.  Sự xuất hiện của Anna không những đem lại một cuộc sống ấm áp và thi vị cho Copernicus mà còn là nguồn động viên, khích lệ to lớn để ông tiến hành viết tác phẩm của mình nhanh chóng hơn. Trong thời gian họ chung sống mười năm, Anna đã chăm sóc về mọi mặt cho Copernicus một cách chu đáo. Cô giúp ông  sắp xếp thời gian gặp gỡ những người tới thăm và giúp ông sao chép bản thảo. Đối với Copernicus, Anna chẳng những là một người bạn gái thông thường mà còn là một nữ quản gia đắc lực của riêng ông. Tuy nhiên, vì Copernicus là một  tu sĩ nên ông không được phép lấy vợ.

Suốt một thời gian dài vùi đầu nghiên cứu, Copernicus cuối cùng đã hoàn thành tác phẩm lớn của mình. Trong cuốn sách đó, Copernicus đã trình bày một cách có hệ thống thuyết nhật tâm về cấu tạo vũ trụ. Bức tranh vũ trụ mới mà ông vẽ ra khác hẳn bức tranh mà Aristotle và Ptolémée đã hình dung trước đó. Trong bức tranh đó, mặt trời ở vị trí trung tâm, xung quanh có sao Hỏa, sao Thủy, sao Kim, sao Mộc, sao Thổ và quả đất, ngoài cùng có các định tinh gắn  trên một hình cầu, gọi là hình cầu các vì sao cố định.

Tuy nhiên, giáo hội luôn tìm mọi cách truy bức hãm hại Copernicus khi tập bản thảo cuốn sách của ông ngày một dày lên. Đầu thế kỉ 16, giáo hội La Mã đã nhiều lần xuống lệnh ngăn cấm không được in những quyển sách chưa được giáo hội thẩm tra. Quan viên của Sở tài phán tôn giáo đến làm việc tại Ba Lan hơn ba trăm lần. Đối với việc nghiên cứu của Copernicus, từ lâu họ đã nghe thấy và đã bố trí mật thám chung quanh ông. Người Tổng giám mục mới nhận chức tại Ba Lan, do ganh ty trước tiếng tăm và thành tựu của Copernicus đã tìm đủ  mọi lý do để vu cáo và công kích ông. Copernicus có một người bạn thân cũng  là một tu sĩ nhưng thật ra đó là một người vô thần luận, từ trước nay vẫn không xem trọng giáo hội. Vị Tổng giám mục tìm mọi cách chia rẽ hai người nhưng không thực hiện được. Thế là ông ta ra lệnh cho người Giám mục tại Frauenburg tìm cách gây sự với họ. Kế đó, vị Tổng giám mục nói trên lại gửi tới Anna một bản thông điệp tối hậu, lấy lý do tu sĩ không được cưới vợ, ra lệnh cho Anna rời khỏi lầu quan sát có văn phòng làm việc của Copernicus. Ông ta cũng uy hiếp Anna nếu trái lệnh thì sẽ bị trừng phạt theo luật của Giáo hội. Đứng trước hành động vô liêm sỉ của Giáo hội, Copernicus đã kháng nghị bằng cách lên tiếng sẽ ''hoàn tục''. Nhưng cuối cùng, gọng kìm của Giáo hội vẫn mạnh hơn sức phản  kháng của Copernicus, ông buộc phải để Anna rời khỏi Frauenburg sau mười năm sống tại đây, để bảo đảm sự an toàn cho cả hai người, đồng thời, để có thể tiếp tục hoàn thành tác phẩm của mình. Còn người bạn thân của Copernicus thì  bị Sở tài phán tôn giáo bắt giữ, mãi cho tới khi Copernicus từ trần thì ông này  mới được trả tự do.

Không dừng lại ở những hành động uy hiếp như vậy, Giáo hội vẫn tiếp tục ngăn cản Copernicus xuất bản cuốn sách của mình bằng nhiều cách khác. Năm 1533, khi giáo hoàng Pope Clement VII biết rõ thuyết ''Mặt trời là trung tâm'' đã lập tức phong tỏa tin tức đó, để không một ai được biết về nó. Song, màn đêm đen u tối của giáo hội đâu thể che phủ ánh sáng chân lý mãi. Năm 1536, một vị hồng y giáo chủ gửi thư cho Copernicus yêu cầu ông trao toàn bộ bản thảo đã hoàn thành cho ông ta. Copernicus đã dứt khoát bác bỏ lời yêu cầu vô lý đó. Các sứ đồ của Giáo hội thấy sự hù dọa bằng bạo lực của họ không có kết quả bèn chuyển sang tìm cách nói xấu, bôi nhọ Copernicus. Họ loan tin rằng Copernicus là một người không có nhân cách, sau đó, xuyên tạc thuyết ''mặt trời là trung tâm'' của ông. Một hôm, người giúp việc của Copernicus báo tin cho chủ của mình biết: có một nhóm người do giáo hội thuê đang tiến hành diễn xuất một vở kịch giữa chợ. Trong vở kịch này có một nhà thiên văn học tự cho rằng mình đã viết ra một quyển sách phi thường và đã khóa kỹ trong ngăn kéo. Nhưng ngăn kéo của ông ta chẳng có gì cả. Đồng thời qua lời nói khùng của ông ta đã tập hợp một lũ quỷ dữ nhe nanh múa vuốt, khiến ông ta sợ hãi quỳ xuống xin tha mạng. Đối với trò hề đó, Copernicus hoàn toàn không để ý. Ông nói với  người giúp việc của mình: ''Sự vận hành của trời đất không vì bọn xấu xa đó lên tiếng trêu chọc hoặc tỏ ý tôn kính mà bị ảnh hưởng''. Trong quá trình nghiên cứu thiên thể của mình, càng ngày, Copernicus càng cảm thấy một cách sâu sắc rằng: vũ trụ bao la như thế kia, hùng vĩ như thế kia trong khi con người sinh sống trên  mặt đất lại quá bé nhỏ, quá đáng thương. Một đời của con người đối với trời đất  vĩnh hằng thật ra chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi. Do vậy, ông càng phấn đấu hơn để nghiên cứu thiên văn.

Mùa xuân năm 1539, một người thanh niên đến gặp Copernicus xin được giúp đỡ ông sửa chữa bản thảo. Anh ta chính là giáo sư đại học George Joachim Rhaticus của trường đại học Winttenberg ở Đức. Copernicus rất phấn khởi đồng ý để người này giúp đỡ mình. Năm 1540, sau khi sửa chữa nhiều lần, bản thảo bộ sách Vận hành đã được hoàn thiện. Trước đó, Copernicus định viết tám tập nhưng sau khi hoàn thành bản thảo thì ông rút gọn lại còn sáu tập. Tập thứ nhất  bàn về vũ trụ gồm có bốn chương, chủ yếu diễn giảng những nét cơ bản của  thuyết ''mặt trời là trung tâm''. Trong khi nói đến trái đất có hình tròn, ông cho  rằng: ''Nguyên nhân vật thể trở thành hình tròn là do trọng lượng của nó, tức là một khuynh hướng tự nhiên khi vật thể hãy còn là một hạt cát bé nhỏ hoặc là  một nguyên tử. Nó tự tích tụ lại thành một khối và thu lại thành hình quả cầu”. Quan điểm đó đã đặt nền tảng cho việc phát hiện vạn vật đều có sức hút lẫn  nhau của Newton. Riêng về vấn đề nguyên tử là gì? Ông cho rằng: “Cái gọi là  nguyên tử chính là một hạt bé nhỏ nhất, không còn có thể chia cắt được nữa.  Chúng chồng chất lên nhau hoặc tích tụ lại rất nhiều lần, chúng quá nhỏ nên  không thể trông thấy được. Do vậy, chúng không thể hình thành một thứ vật thể  mà mắt thường có thể nhìn thấy ngay. Tuy nhiên, số lượng của chúng có thể gia tăng tích lũy để trở thành một vật thể nhìn thấy được”. Nhưng đáng tiếc là sau đó 300 năm, người ta vẫn chưa tìm hiểu được lời nói tuyệt vời đó, cho nên nó đã bị những người theo chủ nghĩa duy tâm bóp chết.

Quyển thứ hai, Copernicus dùng luận chứng của tam giác học nói rõ quy luật cơ bản trong sự vận hành của thiên thể. Quyển thứ ba là biểu đồ các định  tính. Quyển thứ tư giới thiệu sự tự quay và quay xung quanh mặt trời của quả  đất. Quyển thứ năm chuyên giải thích về mặt trăng mà Copernicus rất yêu thích. Ông rất chú trọng đến việc nghiên cứu nguyệt thực. Ông cho rằng khi nguyệt thực xảy ra thì mọi người có thể trông thấy vị trí tương đối giữa mặt trăng, trái  đất và mặt trời. “Vì trong khi những bộ phận khác của vũ trụ đều sáng tỏ bởi ánh  sáng mặt trời, thì đêm tối thật ra không phải là cái gì khác, mà chỉ là bóng tối  của bản thân trái đất. Bóng tối đó có hình nón, đuôi của nó nhọn. Khi mặt trăng tiếp xúc với bóng tối đó thì sẽ bị mất đi ánh sáng, và khi nó tiến vào chính giữa bóng tối thì vị trí của nó đứng thẳng hàng với mặt trời''. Quyển thứ sáu nói về sự  vận hành của các hành tinh khác. Khi ông bàn về các hành tinh, đặc biệt đã phân  tích ''Sự vận động khi chúng ta nhìn''. Ông cho rằng: ''sự biến động vị trí của các  vật thể khi được chúng ta quan trắc, không phải do sự vận động của vật thể bị  quan trắc gây ra''. Mặt trời mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây, mọi người  tưởng rằng mọi người xoay quanh quả đất nhưng kỳ thật, đó chẳng qua là một ảo giác. Tình huống chân thật là quả đất tự chuyển động từ phía Tây sang phía Đông đã gây ra hiện tượng đó. Cũng như một chiếc thuyền khi rời bến, chúng ta trông thấy thành phố và đất liền ngày một xa; hay khi xe lăn bánh thì chừng như  trông thấy cây ở hai bên đường chạy lùi ra phía sau vậy.

Việc sáng lập ra thuyết ''Mặt trời là trung tâm'' của Copernicus đã lật đổ  một cách cơ bản hệ thống thuyết ''Trái đất là trung tâm'' được giáo hội ủng hộ trong suốt một nghìn ba trăm năm qua, làm lung lay quan niệm vũ trụ của thần  học, dấy lên một cuộc cách mạng vĩ đại trong lĩnh vực thiên văn học. Thuyết ''Mặt trời là trung tâm'' là một sự thật không thể biện bác, đã tiến hành phê phán  đối với triết học duy tâm, cung cấp một số lượng lớn những tư liệu cho triết học duy vật chủ nghĩa sau này, để nó có những luận chứng khoa học. Nhưng, thuyết  ''Mặt trời là trung tâm'' vẫn chưa phải là thập toàn thập mỹ. Nó vẫn bảo lưu một số hạn chế của thời đại, Thí dụ như: xem mặt trời là trung tâm của vũ trụ, phủ nhận vũ trụ bao la không giới hạn; trên thực tế hành tinh không phải vận hành theo quỹ đạo tròn xung quanh mặt trời mà nó lấy mặt trời làm tiêu điểm để vận  hành theo hình parabole...

Mãi đến cuối đời, vào năm 1543, được sự khuyến khích của những người bạn thân, Copernicus mới quyết định in tác phẩm vĩ đại của ông. Ông đã nhờ một người học trò mang bản thảo của trước tác này đến Nurnberg để in và từ đó ông nôn nóng chờ đợi tin tức về số phận tập bản thảo của mình. Đó cũng chính là năm Copernicus tròn 70 tuổi. Sức khỏe của ông đã suy sụp ghê gớm ở tuổi 70. Ông rất ít khi lên gian phòng làm việc ở trên nóc tháp mà chỉ dựa vào những bút  ký của mình để nói chuyện với những vì sao trên không trung. Hằng ngày, ông  thường ngồi trên chiếc ghế mây dựa cửa sổ chú ý lắng nghe tiếng sóng vỗ từ biển Zalew vọng vào. Chừng như trong tiết tấu đơn điệu đó ông nghe được âm thanh mà ngày đêm ông đang trông chờ. Tháng 4 năm đó, bệnh tình của Copernicus ngày càng trầm trọng nhưng không giây phút nào ông quên tập bản thảo của mình. Người ta kể rằng, cuốn sách đầu tiên được trao cho Copernicus khi ông đang hấp hối. Đó là buổi chiều ngày 24 tháng 5, giữa lúc tử thần đang  réo gọi Copernicus thì quyển sách ''Vận hành” còn thơm mùi mực in đã được  đưa đến. Người thầy thuốc chụp lấy bàn tay của copernicus đặt lên mặt cuốn sách. Ông cố sờ soạng trên bìa sách, nét mặt thoáng hiện một nụ cười. Một tiếng đồng hồ sau, nhà thiên văn học người Ba Lan - người sáng tạo ra thuyết ''Mặt  trời là trung tâm'' - Nicolaus Copernicus đã đi vào cõi vĩnh hằng. Và chân lý  khoa học cuối cùng cũng được tiết lộ, bất chấp sự phản ứng gay gắt của nhà thờ.

Tuy nhiên, sau khi Copernicus mất, người học trò duy nhất của ông đã hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra nhan đề quyển sách của thầy mình đã bị sửa lại thành “Bàn về sự vận hành của thiên thể”, trong đó một số nội dung quan trọng  đã bị bỏ đi mà thêm vào đó là một lời tựa ngụy tạo. Lời ngụy tạo này đã công  khai đánh giá thấp học thuyết của Copernicus: “Tôi hoàn toàn không hoài nghi là có một số học giả sẽ có thái độ bất bình khi những giả thuyết mới trong trước  tác này được truyền bá rộng rãi...Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn không cần thiết  phán đoán những giả thiết này là đúng đắn, thậm chí cũng không cần thiết phán  đoán nó là tiếp cận với sự chính xác. Chỉ cần trọng thị một sự kiện là được, đó là  kết quả của sự tính toán dựa theo giả thuyết này, hoàn toàn không nhất trí với  kết quả của sự quan trắc. Chính vì lý do đó, hãy để cho những giả thiết này có  một chỗ ngồi trong những giả thiết cổ xưa như vậy...”.

Thì ra, năm 1541, sau khi giáo hội biết tin Copernicus công khai xuất bản quyển ''Vận hành” thì cho rằng nó được in bằng chữ Latinh, độc giả không nhiều nên không ra lệnh cấm in. Nhưng một thương gia làm nghề xuất bản đã tuân  theo ý kiến của vị thủ lĩnh của Tân giáo tại Nurnberg, đưa vào trước tác của  Copernicus một số bài riêng của ông ta. Điều này khiến người học trò và người bạn thân của Copernicus hết sức giận dữ, họ quyết tâm in lại quyển sách này  nhưng đã không thành công. Thế là quyển ''Bàn về sự vận hành của thiên thể'' với bao nhiêu thương tích đầy mình, đã bắt đầu trôi nổi hơn ba trăm năm.

Đến giữa thế kỉ 17, thiên văn học đã có một bước tiến dài, học thuyết ''Mặt trời là trung tâm'' của Copernicus được đông đảo mọi người tiếp nhận. Nhất là số người như Bruno đã dùng chữ Italia để công bố hệ thống của Copernicus, thay thế cho nguyên tác viết bằng chữ La tinh vốn rất hạn chế. Giáo hoàng Urban III (1185 - 1187) tỏ ra hết sức sợ hãi, cho rằng hậu quả của học  thuyết Copernicus còn xấu hơn sự xuất hiện của Giáo phái Luther. Ngày 5 tháng  3 năm 1616, Hiệp hội thẩm tra sách báo đã đặt trước tác của Copernicus vào loại  sách cấm. Phàm ai ca ngợi và phổ biến học thuyết này sẽ bị Sở Tài phán tôn  giáo bắt giam.

Năm 1822, sau khi cách mạng của giai cấp trung sản thành công ở các  nước Châu Âu, giáo hội La Mã rốt cục cũng phải công bố lệnh ân xá và cho phép ấn hành đối với các trước tác bàn về sự vận chuyển của địa cầu và sự đứng yên của mặt trời dựa theo ý kiến nhất trí của các nhà thiên văn học. Nhờ đó,  quyển ''Bàn về việc vận hành của thiên thể” mới được xuất bản rộng rãi.

Nicolaus Copernicus đã khiến cả thế giới kinh ngạc vì những phát hiện mới mẻ của ông. Trên mộ chí của ông, người ta trân trọng khắc lên một dòng  chữ đầy ý nghĩa: Người đã giữ lại mặt trời và đẩy Trái đất chuyển dịch''. Quan  niệm về thế giới dường như thay đổi nhờ sự khám phá của ông.

Năm 1953, để kỷ niệm 480 năm này sinh của Copernicus, tập thứ nhất của bộ sách '' Bàn về sự vận hành của thiên thể” sau khi được bổ sung đầy đủ đã  xuất bản. Đây là lần xuất bản thứ tư của quyển sách này. Bản thảo nguyên tác của Copernicus được trưng bày tại trường đại học Cracow, nơi ông từng theo  học.

Không chỉ là một nhà khoa học cần mẫn, say mê và tinh tường, Nicolaus  Copernicus còn là một thầy thuốc thương yêu bệnh nhân nghèo và là một công  dân tích cực. Với vai trò là một giáo sĩ, Nicolaus Copernicus thường xuyên làm việc thiện. Ông thăm bệnh cho người nghèo không lấy tiền, giúp đỡ các giáo  dân ... Khi có chiến tranh, ông tuy là người tu hành nhưng vẫn sẵn sàng tham gia chiến đấu bằng lòng yêu tổ quốc thiết tha và tinh thần xung trận dũng cảm. Một  câu chuyện kể rằng: khi quân xâm lược Tôtôn kéo đến uy hiếp đất nước Ba Lan  và thành phố Phơrômboóc, nhân dân thành phố hội họp để tìm người tài năng có thể đảm đương việc chỉ huy cuộc chiến đấu phòng thủ. Mọi người đều đồng  thanh nhất trí hô vang: Bác sĩ Copernicus! Bác sĩ Copernicus! Điều đó có lẽ rất dễ hiểu bởi Copernicus là người thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội như chữa bệnh, cải cách xã hội, chấn chỉnh kinh tế. Nhân dân vô cùng yêu mến và kính phục ông. Mặc dù chưa hề có kinh nghiệm chỉ huy chiến trận nhưng  Nicolaus Copernicus vẫn dũng cảm đứng ra nhận trọng trách này. Thái độ kiên  quyết và tinh thần yêu nước của ông đã khơi dậy một khí thế sục sôi trong thành phố. Nhân dân tin tưởng tập trung toàn bộ sức mạnh của họ vào trận chiến đấu  dưới sự lãnh đạo của Nicolaus Copernicus. Kết quả, trận đánh đó đã khiến quân  xâm lược Tôtôn phải rút lui.

Mẩu chuyện nhỏ trên đây giúp chúng ta hình dung về nhân cách một nhà thiên văn học vĩ đại nhất của nhân loại. Những đóng góp  về thiên văn học của ông là bàn đạp không thể thiếu đối với công trình của các nhà khoa học tiếp sau ông như Galilê và Kepler. Họ lại chính là những bậc tiền bối của Newton, người  đã phát hiện định luật về trọng lực và định luật chuyển động. Nhân loại sẽ ghi nhớ cái tên Nicolaus Copernicus như là người thầy của lớp lớp nhà thiên văn  học về sau.

 

 

 

 

 

 

Xem thông tin tác giả tại đây    Phản hồi

 Danh nhân Thế giới   Khoa học tư nhiên
Christopher Columbus (1451 - 1506)
Ferdinand Magellan (1480 – 1521)
Nicolaus Copernicus (l473 - 1543)
Galileo Galilei (1564 - 1642)
Blaise Pascal (1623 – 1662)
Antonie Van Leeuwenhoek (1632 - 1723)
Isaac Newton (1642 - 1727)
Leonhard Euler (1707 - 1783)
Mikhail Vasilievich Lomonosov (1711 - 1765)
Duyệt theo chủ đề
BKTT Thiếu nhi
BKTT Phổ thông
BKTT Nâng cao
BKTT Tổng hợp
BKTT Phụ nữ
Văn minh thế giới
Khám phá & Phát minh
Từ điển
Các nước
Đất nước Việt Nam
Lịch sử & Văn hoá Thế giới
Hiện tượng bí ẩn & kỳ lạ
Tử vi và Phong thuỷ
Danh nhân Thế giới
Danh ngôn nổi tiếng
Trí tuệ Nhân loại
Thơ ca & Truyện ngắn
Ca dao Tục ngữ
Truyện cổ & Thần thoại
Truyện ngụ ngôn & Hài hước
Học tập & Hướng nghiệp
Giải trí - Game IQ - Ảo thuật
Câu đố & Trí thông minh
Cuộc sống & Gia đình
Hoạt động Thanh thiếu niên
Trang chủ  |  Danh ngôn nổi tiếng  |  Danh nhân Thế giới  |  Từ điển  |  Câu hỏi - ý kiến
© 2007-2012 www.bachkhoatrithuc.vn. All rights reserved.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet số 1301/GP-TTĐT, cấp ngày 30/11/2011.
Công ty TNHH Dịch Vụ Trực Tuyến Polynet Toàn Cầu Làm web seo top google